Danh thánh Giêsu

“Đây là gia phả Đức Giê-su Ki-tô, con cháu vua Đa-vít, con cháu tổ phụ Áp-ra-ham” (Mt 1:1).

Trong câu mở đầu này, Mát-thêu giới thiệu cho chúng ta Danh thánh của Chúa Giêsu, Danh thánh đã được kêu cầu đến trong lời cầu nguyện ngay từ buổi đầu của Kitô giáo.

Theo quan điểm Kinh thánh, việc chúng ta có thể kêu gọi tên của Chúa Giêsu là điều thật đáng kinh ngạc. Trong đạo Do Thái cổ đại, danh thánh Chúa chỉ được gọi đến một lần mỗi năm và chỉ bởi vị Thượng tế. Giờ đây, qua việc Thiên Chúa xuống thế làm người trong Đức Kitô, chúng ta có đặc ân kêu cầu danh Chúa: Danh hiệu Giêsu mà Con Thiên Chúa đã tiếp nhận khi nhập thể bao hàm mọi tước hiệu. Con người không có quyền gọi tên Thiên Chúa, nhưng khi nhập thể, Ngôi Lời Thiên Chúa đã mặc khải Danh Thánh này và chúng ta có thể xướng lên Danh đó: ‘Giêsu’; ‘Thiên Chúa Cứu Độ’” (GLCG 2666)

Danh thánh Giêsu hàm chứa một quyền lực mạnh mẽ. Đây là tên duy nhất dưới gầm trời này mà chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ. (Cv 4:12). Nhân danh Chúa Giêsu, người bệnh có thể được chữa lành (Mc 16: 17-18; GLCG 1507), tội nhân tìm thấy lòng thương xót (GLCG 1846), và linh hồn gặp được sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Như Sách Giáo lý giải thích, “Danh Người là danh hiệu duy nhất hàm chứa sự Hiện diện thần linh. Đức Giêsu đã phục sinh, ai kêu cầu danh Người sẽ được đón nhận Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến và hiến mạng sống cho họ.” (GLCG #2666).

Danh thánh Chúa Giêsu là một lời cầu nguyện đơn giản, khi được kêu khẩn với lòng yêu mến và sự chú ý (GLCC 2668). Ví dụ, các Kitô hữu qua nhiều thế kỷ đã đọc Lời cầu nguyện danh Chúa Giêsu, họ lặp đi lăp lại cách chậm rãi và trìu mến câu “Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội,” hoặc thậm chí chỉ tên “Chúa Giêsu,” đôi khi hàng trăm lần một ngày, giữa những công việc nhỏ nhặt hàng ngày, hoặc đọc theo nhịp thở của họ trong khi cầu nguyện. Bằng cách này, cuộc sống hàng ngày của chúng ta có thể trở thành một lời cầu nguyện liên lỉ với Chúa Kitô luôn ở trong tâm trí, trên môi miệng và trong trái tim của chúng ta.

Việc kêu cầu danh thánh Chúa Giêsu rất hữu ích trong những lúc bị cám dỗ hoặc thử thách tâm linh. Thánh danh của Chúa Giêsu có quyền năng khiến muôn vật phải quy phục Ngài, vì thế, như Thánh Phaolô đã nói, “Khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giêsu Kitô là Chúa.”(Pl 2, 10-11). – Gospel of Matthew, Catholic Commentaries

Sinh nhật của Chúa là khởi đầu của hoà bình

Trích bài giảng của thánh Lê-ô Cả, giáo hoàng.

Con Thiên Chúa uy nghi cao cả đã chẳng coi khinh tình trạng trẻ thơ. Với thời gian, trẻ thơ đã lớn, đã đạt tới mức trưởng thành. Sau khi Người đạt được chiến thắng hoàn toàn nhờ cuộc Thương Khó và Phục Sinh, thì tất cả mọi hành động của kiếp người hèn hạ Người đã chấp nhận vì yêu thương chúng ta, đã trở thành quá khứ. Tuy nhiên, ngày lễ hôm nay nhắc lại cho chúng ta những biến cố đầu tiên của Đức Giê-su sinh làm con Đức Trinh Nữ Ma-ri-a. Khi mừng kính ngày giáng sinh của Đấng Cứu Thế, chúng ta cũng mừng chính nguồn gốc của mình.

Thật vậy, ngày Đức Ki-tô giáng sinh cũng là ngày dân Ki-tô hữu khởi đầu. Mừng sinh nhật của đầu là mừng sinh nhật của thân thể.

Dĩ nhiên mỗi người được mời gọi theo phiên thứ của mình. Con cái của Hội Thánh xuất hiện vào những thời điểm khác nhau. Nhưng vì toàn thể các tín hữu đều sinh ra từ giếng nước thánh tẩy, đều cùng chịu đóng đinh với Đức Ki-tô trong cuộc Thương Khó, cùng sống lại với Người trong mầu nhiệm Phục Sinh, cùng được đặt với Người bên hữu Chúa Cha trong mầu nhiệm Thăng Thiên, thì tất cả cũng được sinh ra cùng với Người trong mầu nhiệm Giáng Sinh này.

Người tín hữu thuộc bất cứ phần đất nào trên thế giới, đã được tái sinh trong Đức Ki-tô sau khi từ bỏ đường tội lỗi của con người cũ, thì cũng nhờ được tái sinh mà trở nên người mới. Người ấy không còn thuộc dòng giống cha ông theo huyết nhục, nhưng thuộc dòng tộc Đấng Cứu Thế là Đấng đã trở nên con của loài người để chúng ta được làm con cái Thiên Chúa.

Thật vậy, nếu Người không tự hạ mình và xuống với chúng ta, thì không ai có thể nhờ công nghiệp của riêng mình mà đến với Người được.

Chúa ban cho ta một ân huệ vừa lớn lao, vừa huy hoàng như thế, thì chúng ta phải mừng kính sao cho xứng hợp. Quả vậy, như lời thánh Tông Đồ, chúng ta đã nhận được không phải tinh thần thế tục, nhưng là Thánh Thần phát xuất từ Thiên Chúa, để nhận biết những hồng ân Người ban tặng. Chúng ta chỉ có thể tôn thờ Người cách xứng hợp khi ta dâng cho Người những gì Người đã ban cho ta.

Vậy, trong kho tàng Thiên Chúa đã rộng ban, chúng ta có thể tìm thấy điều gì xứng hợp để mừng kính ngày lễ này cho bằng sự bình an đã được các thiên thần công bố trong ngày Chúa giáng sinh ? Đây chính là sự bình an sinh ra những con cái của Thiên Chúa, sự bình an nuôi dưỡng tình yêu, tạo nên sự hợp nhất, cho các thánh được nghỉ yên, dẫn tới chỗ cư ngụ muôn đời. Việc chính của bình an, hoa quả đặc thù của bình an là tách biệt con người ra khỏi thế gian mà cho kết hợp với Thiên Chúa.

Vậy, những người được sinh ra không phải do khí huyết, cũng không phải do ý muốn tự nhiên của con người, hoặc do ý muốn của phái nam, nhưng do chính Thiên Chúa, phải dâng lên Chúa Cha sự đồng tâm nhất trí của những người con xây dựng hoà bình. Tất cả những ai được Thiên Chúa nhận làm con, hãy cùng nhau tìm đến với vị Trưởng Tử của tạo thành mới ; Người đã đến không phải để làm theo ý riêng mình, nhưng là để làm theo ý Đấng đã sai mình. Những người được Chúa Cha cho thừa hưởng ân huệ làm con không phải là những người bất hoà, chia rẽ, nhưng là những người có cùng một tâm tình, có cùng một tình yêu. Được tái tạo theo một hình ảnh duy nhất, họ phải có tâm hồn tương xứng với hình ảnh ấy.

Sinh nhật của Chúa là khởi đầu của hoà bình, như lời thánh Tông Đồ : Chính Người là bình an của chúng ta, Người đã liên kết đôi bên. Dù chúng ta là dân Do-thái hay dân ngoại, nhưng chính nhờ Người, tất cả chúng ta được liên kết trong một thần khí duy nhất mà đến cùng Chúa Cha.

Chúng ta sẽ làm gì cho tới khi Chúa đến lần thứ hai?

Michael Knowles: Chúng ta biết câu chuyện bắt đầu như thế nào. Chúng ta biết bước ngoặt của câu chuyện là gì, đó chính là mầu nhiệm Nhập Thể. Chúng ta thậm chí còn biết câu chuyện sẽ kết thúc ra sao. Thế nhưng, chúng ta đang sống trong một khoảng thời gian treo lơ lửng của lịch sử, nơi chúng ta được mời gọi phải làm một điều gì đó, và đang cố gắng phân định xem chính xác mình phải làm gì.

Chúng ta cũng đang hướng về khi Chúa đến lần thứ hai, một biến cố có lẽ sẽ đến sớm hơn nhiều người nghĩ. Chúng ta không biết ngày hay giờ; biến cố ấy có thể đến bất ngờ. Cụ thể và tích cực, chúng ta phải chuẩn bị bản thân thế nào?

Bishop Barron: Chúng ta phải cùng nhau sống như Hội Thánh. Chúa Giêsu nói: Con là Phêrô, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng được. Giáo Hội là dấu chỉ của việc gieo hạt giống sự sống của Đức Kitô vào thế giới. Đức Kitô đến trong mầu nhiệm Nhập Thể, và trong mầu nhiệm nhập thể chúng ta được cứu độ. Tôi nói điều đó với tư cách là người Công giáo, không chỉ thập giá mà thôi; đó là đỉnh điểm. Nhưng nhờ trọng vẹn mầu nhiệm nhập thể, chúng ta được cứu độ.

Vậy điều gì làm cho mầu nhiệm Nhập Thể được tếp diễn xuyên suốt không gian và thời gian? Lần nữa, theo quan điểm Công giáo, đó chính là Hội Thánh. Qua giáo huấn chính thức của Hội Thánh, qua các bí tích, đặc biệt là Thánh Thể, qua quyền bính tông truyền, qua các thánh, sự sống của Đức Kitô được tiếp tục hiện diện trong thế giới.

Hãy trở về sách Công Vụ Tông Đồ. Đức Kitô phục sinh và lên trời, Ngài lên trời không để không còn ở đây nữa, ở trên đó và xa khỏi đây. Tạm biệt Chúa Giêsu. Không hề. Hình ảnh đúng hơn là một vị tướng chiếm lĩnh điểm cao để có cái nhìn bao quát toàn bộ chiến trường. Đức Kitô thăng thiên để sai Thánh Thần của Người xuống trên Hội Thánh, nhằm tái tạo thế giới.

Thật vậy, Nhập Thể chính là việc Thiên Chúa tái tạo công trình tạo dựng của Người.

Kitô giáo không chơi trò chơi mang tính Platon. Kitô hữu không theo thuyết nhị nguyên hay ngộ đạo, cho rằng thế giới sa ngã thì xấu xa, vật chất thì tệ hại, và cần phải trốn chạy càng sớm càng tốt. Đó hoàn toàn không phải là linh đạo Kinh Thánh.

Linh đạo Kinh Thánh khẳng định rằng Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa chưa bao giờ bỏ rơi thế giới của Người. Người muốn cứu độ, chữa lành, phục hồi nó, và sau cùng nâng nó lên tới mức hoàn hảo cao nhất. Mầu nhiệm Nhập Thể chính là phương thế Thiên Chúa dùng để thực hiện công cuộc chữa lành vĩ đại của vũ trụ. Hội Thánh, Nhiệm Thể của Đức Giêsu, tiếp tục công trình ấy trong thế giới hôm nay. Và khi chúng ta chờ đợi sự hoàn tất sau cùng, điều mà chúng ta gọi là Cuộc Quang Lâm lần thứ hai thì mọi sự sẽ được quy tụ lại.

Có một thuật ngữ Hy Lạp rất đẹp, thánh Phaolô dùng và các Giáo Phụ rất yêu thích: anakephalaiōsis. Đó là từ dễ nhớ và từ rất đẹp. Trong tiếng Latinh, từ này được dịch là recapitulatio, “quy tụ dưới một thủ lãnh”. Đó chính là việc mọi sự được quy tụ dưới quyền thủ lãnh của Đức Giêsu Kitô. Đó là anakephalaiōsis, nghĩa là recapitulatio, quy tụ lại. Thánh I-rê-nê rất yêu thích ý tưởng này, nó ở ngay trong thư của Thánh Phaolô và thánh Tôma Aquinô cũng vậy.

Cuộc Quang Lâm chính là khoảnh khắc mọi sự được quy tụ lại trong hình dạng đã được chữa lành và cứu chuộc, dưới quyền thủ lãnh của Đức Kitô. Vậy quay lại câu hỏi ban đầu: trong khi chờ đợi, chúng ta phải làm gì?

Chúng ta là Hội thánh cùng sống với nhau. Chúng ta sống như Thành của Thiên Chúa đang hoạt động trong thế giới này, trong khi chờ đợi Người. Chúng ta không tự làm cho điều đó xảy ra, nhưng dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, chúng ta sống theo ý định và kế hoạch của Thiên Chúa.

Chúng ta cần hoán cải sự hiểu biết và cảm xúc của trái tim về cụm từ: hình phạt của Chú

Đoạn Tin Mừng từ Luca (1,5-25) là câu chuyện truyền tin của Da-ca-ri-a. Hầu hết chúng ta khi nghe lời thiên thần nói với ông: "Này đây ông sẽ bị câm, không nói được, cho đến ngày các điều ấy xảy ra, bởi vì ông đã không tin lời tôi, là những lời sẽ được ứng nghiệm đúng thời đúng buổi", đều nghĩ là ông bị Chúa phạt.

Hôm nay nghe được một đoạn chú giải được dịch từ "2025 Gospel Power" rất hay: Ông Dacaria được mô tả là “người công chính trước mặt Thiên Chúa”. Tuy nhiên, ngay cả người công chính cũng có thể sa ngã. Tuổi già và những năm tháng dài cầu xin một đứa con mà không được nhậm lời đã khiến ông Dacaria trở nên cay đắng, và nay là thiếu lòng tin trước mạc khải từ trời.
Sự thinh lặng bị áp đặt, dù bề ngoài có vẻ như một hình phạt, thực ra lại là một thời gian ân sủng... Nếu Thiên Chúa đã mở dạ những người mẹ son sẻ của Israel — như Sara, Rêbêca, Rakhen, Anna và mẹ của Samson — thì tại sao Thiên Chúa lại không làm điều tương tự cho bà Êlisabét? Dấu chỉ ấy, chính là sự thinh lặng, trở thành một trường học của đức tin.

Thư thứ nhất của thánh Gioan cũng nói: "Thiên Chúa là ánh sáng; nơi Người, không có một chút bóng tối nào" (1 Gioan 1:5).

Chúng ta thường dán lên Thiên Chúa những trải nghiệm trong cuộc sống của chúng ta. Trên trái đất này, hình phạt thường đi kèm với sự tức giận, thậm chí tệ hơn, là trút giận cho hả dạ.

Thiên Chúa ‘phạt’ chúng ta không phải để hủy diệt, nhưng để sửa chữa, thanh luyện và chữa lành — bởi vì Ngài YÊU TA. Một người nghiện sẽ cảm thấy việc cai nghiện như một ‘hình phạt’ kinh khủng; cũng vậy, một người phải trải qua phẫu thuật để cắt bỏ khối u ung thư chắc chắn không hề cảm thấy dễ chịu.

Đây là một sự hoán cải trong tâm trí và trái tim mà chúng ta phải chú tâm để ý đến.

Có lẽ hình ảnh người huấn luyện viện giúp chúng ta nghĩ về "hình phạt" của Chúa cách đúng đắn hơn.Là một vận động viên đang trên đường thắng giải Olympia là thiên đàng, chúng ta sẽ rất vinh dự khi người huấn luyện viên không bao giờ chê bỏ ta mà còn đưa ra những chương trình huấn luyện đòi hỏi sự cố gắng luyện tập hơn nữa. Thật là Chúa muốn huấn luyện ta thành tay võ nghệ cao cường (x. Tv 144,1)

Tội lỗi đưa chúng ta vào con đường đau khổ và Chúa phải đi vào nơi tối tăm để đưa chúng ta ra.

Còn Đức Maria vô nhiễm nguyên tội đã phải chịu bao nhiêu đau khổ để thông phần những đau khổ của Đấng mang tên là “Ơn Cứu Độ” (x. Rm 8,17).

Nhờ Chúa Giêsu, chúng ta có thể biến đổi hết mọi đau khổ, ngay cả đau khổ vì tội thành những cơ hội để thông phần vào những đau khổ của Đấng Cứu Chuộc, Đức Giêsu Kitô.

Các bài viết và video về yoga và thiền

Các bài viết và video từ Trongsach.com

Chánh niệm và tỉnh thức của Kitô giáo

Người Công Giáo có nên tập yoga không?

Một Số Khía Cạnh Của Việc Chiêm Niệm Kitô Giáo từ Bộ Giáo lý Đức tin

Video về Yoga

Yoga có là vấn đề không? Cha Vincent Lampert, nhà trừ quỷ, chia sẻ kiến thức của mình

Nếu bạn tập thể dục theo lối này... hãy thận trọng với Alex Frank

Trong video này, Alex Frank, tốt nghiệp từ Duke University và học luật ở Yale, vì bị đau lưng đã tìm đến yoga, ngay cả sống trong chùa ở Nhật bản 3 tháng. Alex trả lời câu hỏi bạn có thể tập yoga mà không có những tác động tiêu cực đến đời sống tâm linh của người Kitô hữu không? Có lựa chọn nào tốt hơn thay vì yoga không (ở video sau)? Mời bạn nghe Alex Frank chia sẻ

Các thần trong yoga có phải là ma quỷ không?

Yoga hay Pilates? Pilates được dựa trên phong trào thể dục dụng cụ ở phương Tây

Some English resources

Bodily positions -- Fr. Carlos Martins

Real cases of harassment by the evil one:
https://www.youtube.com/watch?v=Kfer9yoKHjg (part 1)
https://www.youtube.com/watch?v=NSswxNfmUgs (part 2)

Catholic articles
When Your Therapist Recommends Buddhist Meditation
Can a Christian Practice Buddhism?
What’s the Difference Between ‘Mindfulness Meditation’ and Christian Meditation

Chánh niệm (Mindfulness) và Truyền thống thần bí Công Giáo

Lời từ video của Dr. Greg Bottaro

Vì tôi dạy một khóa học về tỉnh thức theo Công Giáo (Catholic mindfulness) nên đôi khi có người hỏi tôi: người Công Giáo có được thực hành chánh niệm  không, và điều đó liên hệ thế nào với truyền thống linh đạo thần bí Công Giáo (mystical spirituality) vốn đã có sẵn trong Giáo Hội? Đây là những câu hỏi rất hay, và tôi muốn làm rõ ngay từ đầu.

Trước hết, chúng ta hãy nhìn vào sự khác biệt giữa Phật giáo và Công Giáo. Tình thức, chánh niệm (mindfulness) là một thuật ngữ được sử dụng rất nhiều ngày nay, và điều này có thể gây nhầm lẫn vì nó dường như gắn liền với triết lý Phật giáo — và thật sự là như vậy, nó có nguồn gốc từ triết lý Phật giáo. Vì thế, điều hết sức quan trọng là phải hiểu rõ sự khác biệt giữa mindfulness / tình thức theo Công Giáo và mindfulness / chánh niệm theo Phật giáo.

Trước tiên, với tư cách là người Công Giáo, chúng ta tin rằng Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa. Thiên Chúa đã tự mạc khải cho chúng ta nơi con người Đức Giêsu Kitô, và qua đó Người cũng mạc khải cho chúng ta một mầu nhiệm, đó là mầu nhiệm Ba Ngôi. Mầu nhiệm Ba Ngôi là Thiên Chúa vừa là Ba vừa là Một: có sự đa dạng về ngôi vị nơi Thiên Chúa — Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần — nhưng đồng thời cũng có sự hiệp nhất tuyệt đối vì Thiên Chúa là Một. Mầu nhiệm này được phản chiếu trong toàn thể công trình tạo dựng.

Chẳng hạn, nơi nhân loại: con người cũng có một ý thức về sự hiệp nhất. Chúng ta là một gia đình nhân loại, có một điều gì đó liên kết tất cả chúng ta lại với nhau, và nếu Thiên Chúa muốn, tất cả chúng ta được mời gọi để vào nước trời— đó chính là sự hiệp thông các thánh. Có một sự hiệp nhất mà chúng ta đang hướng tới nơi toàn thể nhân loại. Nhưng đồng thời, chúng ta cũng tin rằng mỗi người là một cá vị riêng biệt, được tạo dựng cách độc nhất vô nhị. Mỗi người là một cá nhân thật sự khác biệt. Điều này rất khác với điều Phật giáo tin về thực tại được tạo dựng và về thực tại như họ cảm nghiệm.

Trong khi chúng ta chấp nhận mầu nhiệm Ba Ngôi — vừa là Ba vừa là Một — thì Phật giáo không chấp nhận mầu nhiệm theo cách như vậy.

Để giải thích kinh nghiệm về hiệp nhất và đa dạng, Phật giáo đơn giản cho rằng sự đa dạng chỉ là ảo tưởng. Con đường đi đến giác ngộ của một Phật tử là hoàn toàn và dứt khoát hiểu, cảm nghiệm và cảm thấy chỉ có sự hiệp nhất của mọi hữu thể, và coi sự đa dạng của hiện hữu là ảo tưởng cần phải loại bỏ.

Vì thế, khi nói đến kinh nghiệm về chính bản thân mình, một Phật tử sẽ nói rằng cái “tôi” là ảo tưởng, bản ngã không tồn tại. Đồng thời, họ cũng nói rằng Thiên Chúa không tồn tại, bởi vì Thiên Chúa sẽ là một thực tại tách biệt khỏi con người, và trong triết lý Phật giáo thì không có sự phân biệt.

Dĩ nhiên, chúng ta không tin như vậy. Đây là một khác biệt rất lớn so với thế giới quan Kitô giáo, thần học và triết học của chúng ta.

Đó là hai hệ thống tư tưởng: Phật giáo và Công Giáo. Bây giờ, chúng ta hãy quay lại với mindfulness / tỉnh thức. Đối với Phật giáo, mindfulness /chánh niệm là một bước trên con đường đi đến giác ngộ. Nhưng mindfulness cũng có thể được thực hành trong bối cảnh Công Giáo. Làm sao điều đó có thể xảy ra?

Chúng ta hãy xem mindfulness là gì. Mindfulness đơn giản là ý thức về giây phút hiện tại. Đó là một cách để gạt bỏ lớp mạng nhện, làn sương mờ, sự rối loạn và lao đi không ngừng của tâm trí, hay những tiếng ồn ào bên trong đầu chúng ta, để chúng ta thật sự hiện diện trọn vẹn với những gì đang diễn ra xung quanh.

Đối với một Phật tử, đó là một bước dẫn đến việc nhận ra rằng tất cả những điều đó là ảo tưởng. Còn đối với người Công Giáo, đó là một bước giúp chúng ta nhận ra vẻ đẹp của Thiên Chúa đang thấm nhuần công trình tạo dựng, nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa, và nhận ra chính bản thân mình trong bối cảnh của thế giới được tạo dựng này.
Việc thực hành như vậy có được không? Chúng ta hãy đi xa hơn một chút.

Trên con đường giác ngộ của Phật giáo còn có một bước gọi là “chánh ngữ” (right speech). Điều đó có nghĩa là không nói dối, không nói xấu sau lưng, không vu khống hay bôi nhọ người khác. Đó là một phần trong con đường giác ngộ của Phật giáo. Tự bản chất, đây là một điều tốt đẹp.

Và chúng ta, trong đời sống Kitô hữu, cũng thực hành “chánh ngữ” trên con đường đi đến nhân đức. Điều đó đã có sẵn trong hệ thống luân lý Công Giáo. Vì thế, chỉ vì một điều gì đó là một bước trên con đường giác ngộ của Phật giáo thì điều đó không nhất thiết là sai tự bản chất. Điều tương tự cũng áp dụng cho mindfulness.

Việc học cách ý thức về giây phút hiện tại, xét cho cùng, là một kỹ thuật hay một kinh nghiệm mang tính tâm lý. Chúng ta sử dụng nó thế nào thì phụ thuộc vào thế giới quan, niềm tin tôn giáo hay triết lý sống của mỗi người.

Nếu bạn là Phật tử, thì điều đó có nghĩa là bạn đang đi trên con đường khám phá rằng mọi điều bạn đang chú ý đến đều là ảo tưởng.

 Còn nếu bạn là Kitô hữu hay người Công Giáo, thì bạn đang đi trên con đường hiểu biết rõ hơn về chính mình, về Thiên Chúa, và về thực tại quanh mình. Càng có ý thức rõ ràng về bản thân, bạn càng hiểu sâu hơn những chuyển động của con tim mình, ở tầng sâu bên dưới mọi xao lãng và mọi hỗn loạn của tâm trí.

Khi nói đến cầu nguyện, đối với người Kitô hữu, mindfulness không phải là cầu nguyện, và cũng không thể thay thế cho cầu nguyện. Việc ngồi đó và chỉ đơn giản ý thức về hơi thở của mình không phải là một hình thức cầu nguyện. Tuy nhiên, nó là một cách giúp làm lắng dịu tâm trí để chúng ta có thể bước vào cầu nguyện mà không bị phân tâm — và điều này rất quan trọng.

Tôi không biết bạn thế nào, nhưng với tôi, có nhiều lần tôi ngồi trong thánh lễ mà tâm trí lại chạy sang hướng khác. Tôi không chú ý đến các bài đọc hay bài giảng. Vâng, thưa cha, con xin lỗi, có những lúc con không chú ý đến bài giảng — có thể vì bình xăng sắp hết và con đang nghĩ xem sau lễ sẽ đi đổ xăng ở đâu! Dù là lý do gì đi nữa, tâm trí chúng ta không phải lúc nào cũng gắn chặt với giây phút hiện tại.

Mindfulness / Tình thức chính là điều giúp chúng ta quay trở lại với giây phút hiện tại. Có khi chỉ đơn giản là cảm nhận chiếc ghế nhà thờ mà tôi đang ngồi trong giây lát, để đưa tâm trí ra khỏi những xao lãng và trở lại với “bây giờ và ở đây.”

Và chính điều đó mở ra cho tôi khả năng thật sự đón nhận Lời Chúa, thật sự lắng nghe bài giảng, thật sự đón nhận Mình và Máu Thánh Chúa Kitô, để tôi có thể cảm nếm bằng tất cả các giác quan, với sự tập trung trọn vẹn, với sự hiện diện đầy đủ trong giây phút ấy.
Đó chính là sự khác biệt giữa mindfulness / tỉnh thức theo Công Giáo và mindfulness / chánh niệm theo Phật giáo, và cũng là sự khác biệt giữa mindfulness / tỉnh thức và cầu nguyện trong đời sống Công Giáo.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho bạn.

Chuyển ngữ từ video: Mindfulness and Catholic Mystical Tradition

Người Công Giáo có nên tập yoga không?

Từng là “tín đồ yoga” nhưng sau khi trở thành người Công giáo, tôi muốn đưa ra một vài lời cảnh báo.

Xã hội thế tục rất ưa chuộng yoga, và không ít người Công giáo cũng thích nó. Theo Statista.com, doanh thu của ngành công nghiệp yoga lên đến hàng tỷ đô-la, và số người tham gia được ước tính lên đến hàng chục triệu người.

Bản thân tôi đã từng dấn sâu vào yoga, bị thu hút bởi ý tưởng tự hoàn thiện bản thân mà không cần phải bị những quy luật đạo đức ràng buộc. Sau nhiều năm nghiên cứu yoga và các hệ thống liên quan—chánh niệm, Phật giáo, pháp thuật shaman—tôi đã hoàn thành khóa đào tạo giáo viên, ở ba tháng trong một tu viện Thiền Zen, và học với một trong những guru tinh thần hàng đầu tại Hoa Kỳ. Trong suốt quá trình học hỏi, và khi hành trình tìm kiếm thiêng liêng của tôi dần dẫn tôi đến với Giáo hội Công giáo, tôi nhận ra rằng có yoga nhiều điều sâu xa hơn rất nhiều so với những gì văn hoá đại chúng phương Tây miêu tả .

BẢN CHẤT CỦA YOGA LÀ GÌ?

Khi phân tích xem liệu người Công Giáo có nên thực hành yoga hay không, điểm khởi đầu là xác định yoga là gì. Nó không chỉ là một tư thế cơ thể hay một chuỗi các tư thế. Thực ra, nó còn hơn thế: từ yoga trong tiếng Phạn có nghĩa là “gắn ách vào”, “kết hợp lại”. Việc “gắn ách” này hàm ý một sự kết hợp mang tính tâm linh, bắt nguồn từ một dạng phục tùng. Giờ đây, Đức Kitô mời gọi chúng ta mang lấy ách của Người (Mt 11:30), nhưng yoga đặt lên người tập loại ách nào? Nói cách khác: yoga buộc người thực hành phải phục tùng điều gì?

Chúng ta có thể bắt đầu bằng việc xem xét các tư thế. Lấy vài ví dụ:

  • Ba tư thế Warrior (Chiến Binh) gợi lên thần Virabhadra, vị thần được thần Shiva tạo ra để giết cha vợ của Shiva. Ba tư thế này mô phỏng trình tự của vụ sát hại đó.
  • Matseyadrasana và Gorakshasana được đặt theo tên các đạo sư Ấn Độ giáo, những người sáng lập nên phong cách dẫn đến yoga hiện đại. Theo truyền thuyết nền tảng, họ đã dùng quyền năng huyền thuật của mình để thực hiện trộm cắp, ngoại tình, lừa đảo, cưỡng dâm bằng lừa dối, xúc phạm thi thể, giết con trai của Matsyendra và giả trang thành người khác giới.*
  • Theo người sáng lập Rasa Yoga, Sianna Sherman, tư thế Goddess “gợi lên” nữ thần hắc ám Kali, nổi tiếng vì làm quần áo từ các bộ phận cơ thể của kẻ thù bị giết. Cho đến ngày nay, tại Ấn Độ, những người sùng bái yoga vẫn dâng tế trẻ em cho bà ta.

VẬY MỤC ĐÍCH CỦA YOGA LÀ GÌ?

Nó vượt xa việc thực hiện những tư thế tôn vinh các thần và đạo sư Ấn Độ giáo có vấn đề. Bộ Ngoại giao Ấn Độ cho biết: “Yoga về căn bản là một kỷ luật thiêng liêng dựa trên một khoa học vô cùng tinh vi, tập trung vào việc đem lại sự hòa hợp giữa tâm trí và thân xác… Việc thực hành yoga dẫn đến sự hợp nhất giữa ý thức cá nhân với Ý thức Vũ trụ.” Như vậy, yoga về bản chất là một kỷ luật thiêng liêng. Việc làm thiêng liêng đó được đặt nền tảng trên niềm tin rằng ý thức, hay đơn giản là sự nhận biết, là phương tiện dẫn đến điều thiêng liêng. Mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ bản ngã cá nhân để nhận ra “Chân Ngã” của mình, hòa hợp ý thức của mình vào trong "Đại Ngã", hay có thể nói là hòa mình vào trong thực tại tối cao của vũ trụ, và tan biến mất trong đó.

Nhiều nguồn khác cũng nói những điều tương tự. Judith Lasater, có lẽ là giáo viên yoga nổi tiếng nhất tại Hoa Kỳ, mô tả “bản chất đích thực của việc thực hành” là giác ngộ, để “trải nghiệm thực tại không phải như những phần tách biệt của chúng ta, nhưng như một hữu thể duy nhất.” Anusha Wijeyakumar, một giáo viên yoga và tác giả có tiếng khác, nói rằng “mục tiêu tối hậu của yoga… là samadhi — sự hợp nhất sau cùng với thần và ý thức thiêng liêng… Yoga hám chứa rất nhiều chứ không chỉ là asana (các tư thế thể lý).”

Một mantra, tức bài kinh cầu của Ấn Độ giáo đi kèm các tư thế thể lý, là: “Tôi là những gì tôi nói tôi là.” Xét việc Thiên Chúa tự xưng trong sách Xuất hành 3,14, điều này trông rất giống một nỗ lực biến con người thành Thiên Chúa. Đây là một tuyên bố triết học cấp tiến dẫn đến một lối linh đạo đặc thù.

Ngược lại, Thánh Gioan Thánh Giá mô tả rằng linh hồn yêu mến Thiên Chúa sẽ phản chiếu ánh sáng của Người đến mức giống như chính Thiên Chúa, nhưng vẫn tách biệt về bản thể. Đức Hồng Y Ratzinger, khi khảo sát các hình thức chiêm niệm Kitô giáo, đã viết năm 1989 rằng “mọi khát vọng mà lời cầu nguyện của các tôn giáo khác biểu lộ đều được toại nguyện vượt xa mọi mức độ, nơi thực tại Kitô giáo, mà không làm cho bản thân người cầu nguyện hay bản tính của thụ tạo bị hòa tan hay biến mất vào biển cả của [Đấng] Tuyệt Đối.” Hiệp nhất với Thiên Chúa là khao khát cao quý, nhưng con đường Đông phương và con đường Kitô giáo khác nhau một cách căn bản.

Lập luận ủng hộ yoga phổ biến nhất là loại bỏ phần “thiêng liêng” sâu xa và chỉ tập trung vào hành động thể lý của việc co giãn. Những người Công Giáo ủng hộ yoga cho rằng chỉ cần thực hiện các “tư thế”—vốn tôn vinh các thần Ấn Độ giáo có vấn đề về luân lý và luôn là một thực hành thiêng liêng của Ấn giáo—thì vẫn tốt nếu ta chỉ có ý định tập thể dục. Nhưng lập luận này có đứng vững không?

Để tìm hiểu, ta hãy hỏi: có đúng là một hành vi—ví dụ, thực hiện một tư thế yoga—không có ý nghĩa nào vượt ngoài ý định của người thực hiện không? Thánh Tôma Aquinô lập luận rằng thật ra các hành vi có một ý nghĩa khách quan: “Điều tốt hay xấu mà hành vi bên ngoài tự nó mang… không bắt nguồn từ ý chí, mà từ lý trí” (ST I-II, q. 20, a. 1). Hành vi có bản chất riêng của nó: phẩm chất của hành vi bên ngoài được rút ra từ lý trí hơn là từ ý định của người thực hiện. Tương tự, Sách Giáo Lý dạy rằng để một hành vi là tốt, nó phải có đối tượng luân lý tốt, vốn là điều gắn liền với bản chất hành vi và độc lập với ý định. “Một ý định tốt… không làm cho một hành vi vốn sai lệch trong bản chất trở nên tốt hay chính đáng” (1753).

Vậy “hành vi” kéo giãn theo yoga có “sai lệch trong bản chất” không? “Đối tượng luân lý” của các tư thế này là gì? Bản thân các yogi chỉ ra điều đó, dù họ không nói quá thẳng thắn. Các tư thế nhằm đánh thức kundalini, năng lượng của linh hồn, gắn liền với các thần Ấn Độ giáo. Năng lượng đó khởi đầu ở đáy cột sống, được mô tả như “nữ thần rắn đang ngủ.” Yoga làm cho con rắn đi lên cột sống để chiếm hữu linh hồn, giúp người tập nhận ra “Chân Ngã,” tự đặt mình dưới ách các thần linh đó. Bikram Choudhury, người sáng lập một trong các loại hình yoga phổ biến nhất, nói rằng những gì xảy ra với chuỗi tư thế của ông là: “Bạn đánh thức kundalini. Bạn trở thành Chúa Giêsu Kitô. Hoặc Phật. Công thức yoga của tôi hiệu quả cho mọi người.”

Một trong những đạo sư chính đưa yoga sang phương Tây, B.K.S. Iyengar, viết rằng một tư thế yoga đích thực “là tư thế mà trong đó tư tưởng về [thần tối cao của Ấn Độ giáo] tuôn chảy một cách tự nhiên và liên tục vào tâm trí của người tập.” Judith Lasater nói rằng “bản chất nội tại của yoga là ta không thể tách các asana khỏi những khía cạnh khác của việc thực hành.” Alexandria Crow, một “chuyên gia” yoga nổi tiếng, nói: “Các tư thế thật ra chỉ là phương tiện để truyền dạy triết lý [của yoga].” Theo một cây bút của tạp chí Yoga Journal—nguồn yoga có lưu lượng truy cập lớn nhất ở Hoa Kỳ—lý do của điều này là một đổi mới của cha đẻ yoga hiện đại, Krishnamacharya, người “đã biến các tư thế thành một phần không thể tách rời của thiền định thay vì chỉ là một bước dẫn đến thiền.”

Điều đáng chú ý là ý định chủ quan có xu hướng tự điều chỉnh để phù hợp với đối tượng luân lý thông qua việc thực hành lặp đi lặp lại. Hai khảo sát khoa học cho thấy, mặc dù hầu hết mọi người bắt đầu tập yoga vì lợi ích sức khỏe, nhiều người ở lại với nó để đạt được sự thực chứng mang tính thiêng liêng này. Cha Joseph-Marie Verlinde, người từng đi sâu vào yoga trước khi trở lại đạo, đã nói với vị đạo sư của mình rằng người phương Tây chủ yếu tập yoga để thư giãn. Đạo sư “cười dữ dội” rồi nói: “Điều đó không ngăn được yoga tạo ra tác động của nó.”

Tóm lại, thật khó mà phủ nhận rằng hệ thống làm phát sinh yoga, bao gồm các tư thế, tôn vinh các thần Ấn Độ giáo và nhằm trói buộc người tập một cách thiêng liêng với các thần đó. Trong khi đó, Kinh Thánh nói rằng “mọi thần của chư dân chỉ là ngẫu tượng” (Tv 96,5—bản dịch cũ dùng từ “quỷ dữ” thay vì “ngẫu tượng”), và Giáo Hội có lập trường mạnh mẽ chống lại sự thờ ngẫu tượng (Xh 20,1-4; GLHTCG 2110). Khó có thể tưởng tượng người Công Giáo nào lại chạy đến phòng gym để thực hiện “tư thế cúi chào Ba’al,” vậy mà những “ngẫu tượng” hay “quỷ dữ” trong thực hành thiêng liêng của Ấn Giáo lại được bỏ qua dễ dàng.

Nhưng liệu chúng ta có thật sự mở cửa cho ma quỷ chỉ bằng cách đặt thân thể mình vào một số tư thế nào đó, như trong bài báo châm biếm của Babylon Bee nơi một thợ sửa ống nước vô tình bị quỷ ám? Norman Sjoman, một học giả từng thực hành và nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của Krishnamacharya, cha đẻ yoga hiện đại, đã kết luận rằng “điều làm cho một điều gì đó trở thành yoga không phải là làm gì, mà là làm như thế nào.” Và nhiều tư thế trong yoga bắt nguồn từ thể dục dụng cụ phương Tây và giống với các tư thế trong các bài tập thể hình thông thường. Tương tự như vậy, ăn một miếng bánh tròn bên ngoài bối cảnh Kitô giáo thì không có ý nghĩa thiêng liêng nào, nhưng rước Mình Thánh trong thánh lễ Công Giáo lại khơi dậy những hiệu quả thiêng liêng (hoặc án phạt thiêng liêng) vượt quá ý định chủ quan của người lãnh nhận. Vì vậy, việc thực hiện các tư thế này trong bối cảnh yoga, như một phần của việc thực hành yoga, bất kể ý định chủ quan, khiến chúng trở thành phương tiện để thúc đẩy linh đạo của yoga. Chúng trở thành một “bí tích,” theo nghĩa rộng—một dấu chỉ hữu hình của một hoạt động thiêng liêng sâu hơn.

Vì vậy, đúng theo nghĩa đen mà nói, các tư thế được thực hiện tách rời (không kèm theo các yếu tố tôn giáo hay thiền định) hầu như chắc chắn là ổn. Nhưng kinh nghiệm cá nhân của tôi trong thế giới yoga không khuyến khích tôi tham gia vào nó, cũng như gánh nặng thiêng liêng to lớn gắn liền với nó. Hầu như không thể tránh khỏi việc tham gia vào các yếu tố thiêng liêng của yoga, vốn gây vấn đề nếu chúng ta muốn tránh tôn vinh những vị thần sát nhân và mở lòng mình với các niềm tin thiêng liêng của yoga.

Có rất nhiều cách để rèn luyện thể chất mà không mang gánh nặng đó—đáng chú ý là Pietra Fitness—vừa mang lại lợi ích thể chất tương tự vừa đưa người tập vào tương quan yêu thương với Thiên Chúa dựa trên chân lý. Vậy tại sao lại chọn yoga, khi rủi ro quá cao và lợi ích lại tương đối thấp?

Chuyển ngữ từ Should Catholics Practice Yoga?

* For the gruesome details, see Christopher Wallis, Tantra Illuminated: The Philosophy, History, and Practice of a Timeless Tradition (Audible Audiobook Edition, 2016), ch. 100, 12:47:08; James Mallinson, The Khecarividya of Adinatha: A Critical Edition and Annotated Translation of an Early Text of Hathayoga, (New York: Routledge, 2008), p. 186, note 129; and David White, The Alchemical Body: Siddha Traditions in Medieval India (Chicago: University of Chicago Press, 2012), pp. 236-237. (“Goraksha kills and skins the boy, scrubs his skin like a washerman to remove all its bodily impurities and hangs his skin on the roof to dry, like the hide of some skinned beast.”)