Thứ Hai, 5 tháng 1, 2026

Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa, năm A

“Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người.” (Mt 3:13-17)

[Việc Chúa Giêsu xuống sông Giođan để chịu phép rửa] thật huyền nhiệm, bởi vì Đức Giêsu là Đấng vô tội thì không cần chịu phép rửa để bày tỏ lòng sám hối tội lỗi của mình, hay để được thanh tẩy khỏi tội, vì Người không hề có tội.

Gioan không muốn làm phép rửa cho Đức Giêsu. Ông nói: “Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi sao?” Đó là sự khiêm nhường của Gioan đáp lại sự khiêm nhường của Đức Giêsu. Hãy tưởng tượng Đức Giêsu đứng xếp hàng cùng với hàng trăm tội nhân khác, chờ đến lượt mình được Gioan làm phép rửa. Người không cần phép rửa của Gioan, cũng như Người không cần bất cứ điều gì khác từ các thụ tạo mà chính Người đã dựng nên. Thế nhưng Người đã tự hạ mình, không chỉ trở thành con người mà còn trở thành tôi tớ, một người phục vụ. Người rửa chân cho các môn đệ. Người chấp nhận bị tử đạo vì chúng ta.

Chúa Giêsu đã trở thành một hài nhi bé nhỏ vì chúng ta, và trước đó nữa, khi Truyền Tin, Người đã là một phôi thai, chỉ là một tế bào duy nhất. Tất cả đều nằm trong một kế hoạch trước sau như một của Chúa. Thiên Chúa, Đấng Toàn năng, đã trở nên kẻ bé mọn nhất trong loài người, để chúng ta, những kẻ ít xứng đáng nhất, có thể trở nên cao trọng, có thể có Chúa Thánh Thần ở trong ta và dẫn dắt ta, để ta có thể sống không phải cho vinh quang riêng mình mà cho vinh quang của Thiên Chúa.

Điều xảy ra khi Đức Giêsu chịu phép rửa bởi Gioan thì trái ngược với điều xảy ra khi chúng ta chịu phép rửa.

Khi chúng ta chịu phép rửa, Thiên Chúa dùng nước hữu hình để thanh tẩy linh hồn chúng ta một cách thiêng liêng. Nhưng khi Đức Giêsu chịu phép rửa bởi Gioan, không phải nước làm thay đổi Người, mà chính Người làm thay đổi nước. Người biến nước thành khí cụ cứu độ trong Bí tích Thánh Tẩy, bí tích làm biến đổi linh hồn chúng ta theo hai cách: loại bỏ tội nguyên tổ và ban cho ta Chúa Thánh Thần.

Vì thế, các Tin Mừng đối chiếu phép rửa của Gioan với phép rửa của Đức Giêsu khi nói rằng Gioan chỉ làm phép rửa bằng nước, còn Đức Giêsu thì làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần.
Bí tích Thánh Tẩy luôn gắn liền với nước, nhưng khi chúng ta được rửa tội theo phép rửa mà Đức Giêsu đã thiết lập, thì nước trở thành khí cụ của Chúa Thánh Thần, Đấng đi vào linh hồn người được rửa tội và khởi sự công trình mà Đức Giêsu đã đến trần gian để thực hiện: cứu chúng ta khỏi tội lỗi. Người là “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1,29).
Phép rửa của Gioan chỉ diễn tả lòng sám hối của chúng ta; theo thuật ngữ thần học, đó không phải là một bí tích mà chỉ là một á bí tích. Phép rửa của Đức Giêsu thực sự xóa bỏ tội lỗi, tội nguyên tổ, thứ tội ngăn cản chúng ta bước vào thiên đàng.

Chính vì thế Gioan không làm phép rửa cho trẻ sơ sinh: phép rửa của ông chỉ diễn tả sự sám hối đối với các tội cá nhân, mà trẻ sơ sinh thì không thể phạm tội cũng như không thể sám hối.

Nhưng các Kitô hữu lại làm phép rửa cho trẻ sơ sinh, bởi vì bí tích Thánh Tẩy hay Rửa Tội Kitô giáo xóa bỏ tội nguyên tổ, tức là tình trạng tội lỗi nằm ngay trong bản tính của chúng ta, bản tính nhân loại mà chúng ta thừa hưởng từ cha mẹ và tổ tiên. Trẻ sơ sinh chưa thể sử dụng tự do ý chí để phạm các tội thực sự, nhưng các em có cùng bản tính nhân loại như người lớn: các em sinh ra đã mang vết nhiễm tội nguyên tổ, thứ tội ngăn cản chúng ta vào thiên đàng. Đó là lý do chúng ta làm phép rửa cho trẻ sơ sinh.

Bí tích Thánh Tẩy thực sự biến đổi bản tính của chúng ta. Nó đặt chính sự sống của Thiên Chúa vào trong linh hồn chúng ta. Điều đó không phải là phép thuật, cũng không phải là một cỗ máy tự động và cưỡng bách, vì chúng ta có thể khước từ sự sống thần linh ấy, có thể tự hủy nó trong chính mình, nhưng chúng ta không thể tự tạo ra nó. Chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể làm được điều đó.

Điều này không có nghĩa là ai chưa được rửa tội không thể lên thiên đàng. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo nói rằng “Thiên Chúa cũng có thể hoạt động ngoài các bí tích của Người.” Hội Thánh dạy rằng, bên cạnh phép rửa bằng nước, còn có “phép rửa bằng máu” là tử đạo, và “phép rửa bằng ước muốn,” tức là ước muốn được rửa tội, có thể là ước muốn rõ ràng hoặc tiềm ẩn. Nói cách khác, cũng có thể có những lối vào thiên đàng khác, nhưng cửa chính vẫn là Bí tích Rửa Tội của Kitô giáo. Tranh cãi về điều đó thì thật ngớ ngẩn, vì chúng ta đâu có thiết kế ngôi nhà ấy hay những cánh cửa của nó; chính Thiên Chúa đã làm điều đó. Và Thiên Chúa biết chính xác Người đang làm gì. Còn chúng ta thì không, bởi vì (và đây là cú sốc lớn): chúng ta không phải là Thiên Chúa. -- Dr. Peter Kreeft, Food for the Soul: Reflections on the Mass Readings (Cycle A)

Share:

Phép rửa bằng Thánh Thần và bằng lửa -- Chúa Giêsu chịu phép rửa, Năm C

“Phần tôi, tôi làm phép rửa cho anh em bằng nước, nhưng có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em bằng Thánh Thần và bằng lửa." (Luca 3:16)

Bí tích Rửa tội luôn đi kèm với đức tin, luôn bao hàm đức tin, và luôn giả định có đức tin—hoặc là đức tin của người lớn muốn trở thành Công giáo đang được rửa tội, hoặc là đức tin của cha mẹ và Giáo Hội trong trường hợp rửa tội cho trẻ sơ sinh. Tin Mừng theo Thánh Gioan nói rằng khi chúng ta “tin” thì chúng ta “đón nhận” (xem Gioan 1:12–16). Khi chúng ta mở cửa, Thiên Chúa đến. Thiên Chúa đến thực sự, chứ không chỉ là biểu tượng.

Đây không chỉ là một lối sống mới, hoặc một bộ lý tưởng hay nguyên tắc mới; đây là một sự sống mới, một kiểu sống mới. Nó giống như Pinocchio biến từ một con rối gỗ thành một sinh vật sống, hoặc như con cóc biến thành hoàng tử khi công chúa hôn nó. Nhiều câu chuyện cổ tích được viết có biểu tượng Kitô giáo.

Câu chuyện về Pinocchio chính xác hơn câu chuyện hoàng tử cóc, vì khi con cóc được hôn, nó không còn là cóc nữa, nhưng khi Pinocchio trở nên sống động, cậu ta vẫn là một cái đầu làm bằng gỗ, và cậu ta chọn những người bạn sai lầm và học cách nói dối, khiến mũi cậu dài hơn sau mỗi lần nói dối. Đó chính là chúng ta.

Chúng ta có sự sống của Chúa, chúng ta có Chúa Thánh Thần trong chúng ta, nhưng chúng ta sống như những người không biết đến sự sống mới. Chúng ta có hai sự sống trong mình: tự nhiên và siêu nhiên, thuộc về con người và thuộc về Thiên Chúa, tạm thời và vĩnh cửu, xác thịt và thần khí. Thánh Phaolô gọi chúng là “con người cũ” và “con người mới” (Ê-phê-sô 4:22–24).

Con người cũ đến từ A-đam thứ nhất, con người mới đến từ Đức Kitô, A-đam mới. Đó là ý của Thánh Phaolô khi ngài nói rằng “xác thịt có những ham muốn chống lại Thần Khí, và Thần Khí chống lại xác thịt” (Ga-lát 5:17). Xác thịt và thần khí không có nghĩa là thân xác và linh hồn. Chúng có nghĩa là con người cũ, con người tội lỗi mà chúng ta nhận từ A-đam và con người mới được cứu chuộc mà chúng ta lãnh nhận từ Đức Kitô.

…Không giống như lửa vật chất, lửa của Thánh Thần chỉ đốt cháy những điều xấu. Càng đến gần ngọn lửa thông thường, bạn càng bị hủy hoại, nhưng càng đến gần ngọn lửa thánh thiêng liêng, bạn càng sống mãnh liệt hơn. Ngọn lửa này càng làm bạn cảm thấy bị đốt cháy bạn khi bạn càng xa rời nó.

Lửa là biểu tượng tự nhiên cho đam mê và cường độ. “Thiên Chúa chúng ta là ngọn lửa thiêu,” thư gửi người Do Thái nói (Híp-ri 12:29). Thiên Chúa không phải là một ông già ngủ gật; Ngài là một người Cha yêu thương và do đó Ngài có quyền đòi hỏi. Ngài dễ được chúng ta làm hài lòng nhưng khó thỏa mãn. Chúng ta không thoải mái khi gặp Ngài; đối với chúng ta Ngài không là người chán ngắt, không nửa nóng nữa lạnh. Ngài là ngọn núi lửa của tình yêu. Ngài không yêu rồi lại hết yêu như chúng ta, vì Ngài là tình yêu. Thiên Chúa không thể yêu đậm sâu hơn nữa cũng như mặt trời không thể sáng hơn hay biển không thể ướt hơn.

Càng để ngọn lửa này cháy trong tâm hồn mình, để nó thiêu đốt mọi sự ích kỷ tìm thoải mái của mình, cuộc sống của bạn sẽ càng được biến đổi. Hãy hỏi bất kỳ vị thánh nào.

Tình yêu là ngọn lửa sống động. So với những ham muốn của chúng ta, tình yêu Thiên Chúa mãnh liệt hơn rất nhiều. Tình yêu của Chúa đối với những ham muốn của con người thì  như mặt trời đối với que diêm. Nó giống như ánh sáng laser cắt xuyên qua thép cứng nhất. Bất cứ khi nào bạn cầu nguyện, bạn đang chịu phẫu thuật laser trên linh hồn mình. Cầu nguyện là phòng mổ của Chúa. Ngài đang chờ sự đồng ý của bạn để thực hiện ca mổ. Và bạn có thể tin tưởng bác sĩ này vì đôi tay cầm dao mổ có lỗ đinh trên đó. -- Dr. Peter Kreeft, Food for the Soul: Reflections on the Mass Readings (Cycle C)

Share:

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2026

Lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa

Tạm dịch từ Feast of the Baptism

Chúa nhật này kết thúc mùa Giáng sinh, mùa của niềm vui: Chúa Giêsu chịu phép rửa đánh dấu sự kết thúc thời thơ ấu và giai đoạn học hỏi của Ngài, và đánh dấu việc Ngài bắt đầu sứ vụ công khai. Trong ngày Chủ nhật này, các hang đá cần được cất gói cho năm sau, nếu bạn chưa làm việc đó. Mặt khác, Chúa Nhật này đánh dấu điểm bắt đầu của Mùa Thường niên, cuộc tuần hành của ba mươi bốn Chúa Nhật bắt đầu từ tháng Giêng và kết thúc vào tháng Mười Một. Trong những ngày tháng đó chúng ta đi trên con đường làm môn đệ với Chúa Giêsu như được trình bày trong phần đầu của ba sách Phúc âm — trong năm nay, Phúc âm Thánh Mác-cô.

Bài đọc thứ nhất là từ Isaia 55: 1-11. Đây là một bài đọc dài và phức tạp, vì vậy tôi sẽ chú giải từng khúc một:

Đức Chúa phán như sau :
Đến cả đi, hỡi những người đang khát, nước đã sẵn đây! Dù không có tiền bạc, cứ đến mua mà dùng;
đến mua rượu mua sữa, không phải trả đồng nào. Sao lại phí tiền bạc vào của không nuôi sống, tốn công lao vất vả vào thứ chẳng làm cho chắc dạ no lòng?
Hãy chăm chú nghe Ta, thì các ngươi sẽ được ăn ngon, được thưởng thức cao lương mỹ vị. Hãy lắng tai và đến với Ta, hãy nghe thì các ngươi sẽ được sống.
Ta sẽ lập với các ngươi một giao ước vĩnh cửu, để trọn bề nhân nghĩa với Đa-vít.

Đây là một lời tiên tri cực kỳ quan trọng của Isaia, một trong một số ít những lời tiên đoán của Isaia về sự ra đời của Giao ước mới. Tuy nhiên, Isaia không sử dụng thuật ngữ “Mới”, chỉ có Giê-rê-mi dùng thuật ngữ đó (Giê 31:31). Đúng hơn, thuật ngữ ưa thích của Isaia cho những gì chúng ta biết là giao ước mới là giao ước đời đời (Heb. Berît ‘ôlam). Isaia sử dụng cụm từ này để nhấn mạnh đặc tính vĩnh viễn của giao ước sắp tới, không như giao ước Môi-se tại Sinai, đã bị phá vỡ ngay lập tức và một ngày nào đó sẽ không còn cần thiết nữa.

Điều quan trọng là phải nắm bắt được dòng chảy và bối cảnh của lời tiên tri này. Nó bắt đầu với tiếng nói của Thiên Chúa mời gọi những người nghèo (tức là những người “khát” và “không có tiền”) đến một bữa ăn miễn phí (“không phải trả đồng nào”). Những ai đến dự bữa ăn này sẽ được mời vào một “giao ước đời đời,” cùng một giao ước mà Đa-vít được vui hưởng.

… Phần cuối của Isaia 55:3 thực sự có nghĩa là những người nghèo nghe tiếng Chúa và đến ăn bữa ăn không cần trả đồng nào sẽ được khai tâm để bước vào một giao ước, về bản chất thì cùng là một giao ước mà Đa-vít được tận hưởng, thường được các Kinh thánh gia gọi là "Giao ước của Đavít.” Rõ ràng lời tiên tri này mang đậm tính chất Thánh Thể — một trong những lời tiên tri về Thánh Thể quan trọng nhất trong cả Cựu Ước.

4 Này, Ta đã đặt Đa-vít làm nhân chứng cho các dân,
làm thủ lãnh chỉ huy các nước.
5 Này, ngươi sẽ chiêu tập một dân tộc ngươi không quen biết;
một dân tộc không quen biết ngươi sẽ chạy đến với ngươi,
vì Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi,
vì Đức Thánh của Ít-ra-en
đã làm cho ngươi được vinh hiển.


Chúng ta quên rằng Đa-vít không chỉ là vua của Israel, mà còn là vua của các quốc gia xung quanh (2 Sm 8:11), và đã được hứa ban quyền hành trên toàn thể trái đất (Tv 2: 1-9). Vì vậy, Isaia đang đưa ra một điểm: Cũng như Đa-vít đã từng là vua trên nhiều quốc gia, vậy các bạn nghèo đến bữa ăn miễn phí mà tôi cung cấp sẽ thấy mình đang được các dân tộc ngoại bang tìm đến, những người đến với bạn để để tìm ơn cứu rỗi. Đây là một lời tiên tri huyền bí về sứ vụ truyền bá Phúc Âm của Giáo hội. Giáo hội sẽ phục hồi vương quốc và giao ước của Đa-vít.

Hãy tìm Đức Chúa khi Người còn cho gặp, kêu cầu Người lúc Người ở kề bên.
Kẻ gian ác, hãy bỏ đường lối mình đang theo, người bất lương, hãy bỏ tư tưởng mình đang có mà trở về với Đức Chúa -và Người sẽ xót thương-, về với Thiên Chúa chúng ta, vì Người sẽ rộng lòng tha thứ.
Thật vậy, tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi,
và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta - sấm ngôn của Đức Chúa.
Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy.


Lúc này, ngôn sứ Isaia kêu gọi kẻ gian ác ăn năn để được tha thứ. Không như loài người, những kẻ thích suy nghĩ theo kiểu ăn miếng trả miếng, đền đáp công lý, cách suy nghĩ của Thiên Chúa là lòng thương xót và sự tha thứ. Sự rộng lượng tha thứ của Thiên Chúa gắn liền với cách tư tưởng siêu việt của Ngài— “tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các người… tư tưởng của Ta vượt xa tư tưởng các ngươi”. Nói cách khác, các ngươi chỉ có thể nghĩ về công lý và hình phạt, nhưng Ta nghĩ về lòng thương xót và sự tha thứ.

10 Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời
không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất,
chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc,
cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn,
11 thì lời Ta cũng vậy, một khi xuất phát từ miệng Ta,
sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả,
chưa thực hiện ý muốn của Ta,
chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó.

Đây là một câu nói chung chung, đúng đắn về hiệu quả của Lời Chúa, nhưng trong bối cảnh của Thánh lễ hôm nay, nó còn có thể được hiểu theo ý nghĩa Kitô học cụ thể: Chúa Giêsu là “Lời” phát ra từ miệng Chúa Cha: Người sẽ làm theo ý Thiên Chúa. sẽ đạt được mục đích mà Người đã được gửi đến. Đó là ý tưởng đặc biệt ứng hợp cho ngày này, đánh dấu sự khởi đầu sứ mệnh của Chúa Giêsu, sự khởi đầu nỗ lực của Ngài để “đạt được mục đích” mà Ngài đã được sai đến. Ngoài ra, chúng ta cũng có thể đưa ra ý nghĩa liên quan đến Chúa Thánh Thần cho đoạn này: “mưa và tuyết” từ trên trời xuống để tưới trái đất và sinh hoa kết trái có thể được coi là dấu của Chúa Thánh Thần, Đấng trong bài đọc Tin Mừng của chúng ta, sẽ xuống từ trời để ban sự sống mới cho trái đất, bắt đầu từ Chúa Giêsu, Đấng là “hoa quả đầu mùa” của cuộc tạo dựng mới (1 Cr 15:20,23).

Vì vậy, tất cả, những đặc điểm chúng ta quan sát được trong đoạn này — lời kêu gọi ăn năn sám hối, lời mời  đến tham dự bữa tiệc Thánh Thể, lời hứa rằng Lời Chúa sẽ hoàn thành mục đích của Ngài — tất cả những đặc điểm này đều hoạt động cách thích hợp trong ngày lễ hôm nay khi chúng ta bắt đầu “hành trình làm môn đệ” qua phụng vụ với Chúa Giêsu mà Mùa Thường niên tượng trưng.

Đáp ca Isaiah 12:2-3, 4bcd, 5-6

Đ.Các bạn sẽ vui mừng múc nước tận nguồn ơn cứu độ.
Đây chính là Thiên Chúa cứu độ tôi,
tôi tin tưởng và không còn sợ hãi,
bởi vì Chúa là sức mạnh tôi,
là Đấng tôi ca ngợi, chính Người cứu độ tôi.
Các bạn sẽ vui mừng múc nước tận nguồn ơn cứu độ.
Đ.Các bạn sẽ vui mừng múc nước tận nguồn ơn cứu độ.
Hãy tạ ơn Chúa, cầu khẩn danh Người,
vĩ nghiệp của Người, loan báo giữa muôn dân,
và nhắc nhở : danh Người siêu việt.
Đ.Các bạn sẽ vui mừng múc nước tận nguồn ơn cứu độ.
Đàn ca lên mừng Chúa,
vì Người đã thực hiện bao kỳ công;
điều đó, phải cho cả địa cầu được biết.
Dân Xi-on, hãy mừng rỡ reo hò,
vì giữa ngươi, Đức Thánh của Ít-ra-en quả thật là vĩ đại!
Đ.Các bạn sẽ vui mừng múc nước tận nguồn ơn cứu độ.

Đây là một trong số ít những dịp mà “Thánh vịnh” không thực sự là một bài thánh vịnh, mà là một bài ca từ một phần khác của Kinh thánh… Isaiah 12 là một thánh ca đặc biệt nổi tiếng, được sử dụng nhiều trong Mùa Phục sinh. Trong cấu trúc của sách Isaia, chương 12 tạo thành một lời tán tụng tuyệt vời kết thúc phần đầu tiên của cuốn sách (Isaia 1-12), có thể hoạt động như một bản tóm tắt của hầu như hết tất cả các chủ đề chính của sách ngôn sứ Isaia. Phần này của Isaia bao gồm một số lời tiên tri về Đấng Mêssia mạnh nhất và rõ ràng nhất: Isaia 7:14; 9: 1-9; 11: 1-15. Isaia kêu gọi độc giả của mình ngợi khen Thiên Chúa sau khi nghe những lời tiên tri tuyệt vời, những điều đang chờ đợi họ trong tương lai. Đặc biệt, chúng ta lưu ý đến chủ đề “nước cứu rỗi” và việc loan báo tin mừng cho “các quốc gia” và “toàn thể trái đất”. Những chủ đề này thực sự là đặc trưng của toàn bộ sách ngôn sứ Isaia. Ngôn sứ này được coi là ngôn sứ vĩ đại nhất trong số các ngôn sứ viết (văn học) trong Do Thái giáo cổ đại, và Isaia là ngôn sứ được trích dẫn nhiều nhất trong cả Sách Cuộn Biển Chết và Tân Ước. Những người thuộc nhóm Essenes để lại cho chúng ta những Cuộn giấy nổi tiếng từ tu viện của họ trên bờ Biển Chết, họ đặc biệt yêu thích Isaia, và họ có lẽ hiểu đoạn văn về việc “rút nước từ nguồn nước cứu độ” này như một tham chiếu đến nghi lễ rửa sạch của họ trong nhiều hồ tắm thánh thiêng mà họ duy trì tại Qumran, tu viện của họ.

Ngay cả một trăm năm trước khi Chúa giáng sinh, họ đã tuyên bố rằng các nguồn nước trong cộng đồng của họ có thể truyền đạt Chúa Thánh Linh và tẩy sạch tội lỗi. Gioan Tầy giả có lẽ đã được đưa đến nơi đó để được dưỡng dục (xem Lu-ca 1:80), nhưng Gioan không hài lòng với việc “nước cứu rỗi” bị giới hạn trong vòng khép kín của những tu sĩ siêu sùng đạo này. Gioan Tẩy giả khao khát để mang thông điệp về sự ăn năn sám hối và ơn cứu rỗi đến với khán giả đông đảo hơn — ngay cả đến với “các quốc gia” hay “dân ngoại” (những từ này giống nhau trong tất cả các ngôn ngữ cổ). Điều đó có lẽ đã dẫn đến việc chia tay với cộng đồng tu viện ở Qumran, và Gioan chuyển dời một vài dặm lên Jordan đến chỗ cạn của Jericho, một tuyến đường thương mại bận rộn, nơi các thương gia và khách du lịch từ khắp nơi trên Đế quốc La Mã (và xa hơn) gặp nhau — có thể so sánh với một trung tâm sân bay lớn (Atlanta Hartfield hoặc Chicago O'Hare) ngày nay. Tại đó, Gioan đã rao giảng phép rửa như một dấu hiệu của việc sám hối và báo trước về Đấng Mêsia sắp đến, Đấng sẽ gửi Chúa Thánh Thần đến cho loại người.  Điều này tạo tiền đề cho phần Đọc Tin Mừng của chúng ta.

Bài đọc thứ 2 của chúng ta là từ thư I Gioan 5: 1-9. Bài đọc này đặc biệt thích hợp cho Chúa Nhật hôm nay, bởi vì Chúa Nhật này đánh dấu sự kết thúc của các bài đọc gần như liên tục từ thư thứ I của thánh Gioan đánh dấu Mùa Giáng Sinh. Thật vậy, I Gioan là một bức thư có sự ngọt ngào và tinh khiết tuyệt vời, một sự chắt lọc hoàn toàn rõ ràng của Phúc Âm, là sứ điệp cứu rỗi. Giáo Hội “uống sữa” của thư thứ I của Gioan mỗi năm khi GH trở thành một đứa trẻ mới sinh về mặt thiêng liêng với Chúa Hài Đồng vào Lễ Giáng Sinh. Nhưng bây giờ chúng ta đi đến phần cuối của thời thơ ấu thiêng liêng này, và thánh Tông đồ tóm tắt các chủ đề chính của bức thư của mình. Tôi sẽ bình luận từng phần:

Anh em thân mến,
phàm ai tin rằng Đức Giêsu là Đấng Ki-tô, kẻ ấy đã được Thiên Chúa sinh ra.
Và ai yêu mến Đấng sinh thành, thì cũng yêu thương kẻ được Đấng ấy sinh ra.

Ở đây chúng ta thấy Phúc âm của Gioan và lá thứ đầu tiên của ngài có liên quan mật thiết như thế nào. Tất nhiên, Chúa Giêsu, Con Một Thiên Chúa là chủ đề chính của Phúc Âm (Gioan 3:16), nhưng địa vị làm con của Thiên Chúa không chỉ dành riêng cho Chúa Giêsu. Ngài chia sẻ điều đó với hết thảy những ai “tin Đức Giêsu là Đấng Kitô." Tất cả chúng ta đều có thể trở thành “được sinh ra” giống như “Đấng duy nhất phát sinh” từ Chúa Cha. Sự “phát sinh” đó được xảy ra trong bí tích Rửa tội, là sự sinh ra trong Thánh linh của chúng ta để được làm con cái của Thiên Chúa. Trước khi lãnh nhận bí tích Rửa tội, chúng ta chỉ là có tiềm năng để trở thành con cái của Thiên Chúa (tiếng Latinh spe), nhưng nhờ bí tích Rửa tội, chúng ta thực sự trở thành con của Thiên Chúa (tiếng Latinh re). Giáo huấn về việc làm con cái Thiên Chúa này độc nhất là giáo huấn của Kitô giáo - các tôn giáo khác bác bỏ lời dạy này, hiểu về nó khác hơn nhiều, hoặc coi nó là không quan trọng.

Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được mình yêu thương con cái Thiên Chúa: đó là chúng ta yêu mến Thiên Chúa và thi hành các điều răn của Người.

Thư thứ nhất của thánh Gioan rất quan tâm đến việc “biết” rằng mình được cứu rỗi và có mối quan hệ đúng đắn với Thiên Chúa, vì dị giáo đã nổi lên trong thời của Thánh Gioan Tông đồ; ngài chết vào khoảng năm 96 sau Công nguyên. Làm sao chúng ta có thể “biết” được chúng ta được cứu rồi khi có nhiều thầy dạy giả đi khắp nơi rao giảng về sự cứu rỗi nghe có vẻ hấp dẫn? Gioan đưa ra nhiều tiêu chuẩn khác nhau về đức tin chân chính trong các lá thư của ngài. Đây là một tiêu chuẩn: chúng ta biết mình đang đi đúng đường khi chúng ta “yêu mến Thiên Chúa và thi hành các điều răn của Ngài”. Thi hành các điều răn của Thiên Chúa là một dấu hiệu của tình yêu thương. Không có sự vâng lời mà không có tình yêu, và cũng không có tình yêu mà không có sự vâng lời. Nhiều tà giáo đã nổi lên trong suốt lịch sử Giáo hội và đã tách rời tình yêu thương khỏi sự vâng phục. Tiếng kêu la “sự cứu rỗi chỉ có thể có được bởi đức tin mà thôi” của nhóm Cải Cách, theo một số đường lối của họ, là một nỗ lực để tách lìa tình yêu ra khỏi sự vâng lời bằng cách khẳng định rằng chúng ta có thể yêu Chúa nhưng không tuân theo các điều răn của Ngài. Luôn có cả hai lạc giáo “tiến bộ” và lạc giáo “bảo thủ”. Những người theo chủ nghĩa dị giáo bảo thủ bám chặt vào điều gì đó trong quá khứ một cách không phù hợp, trong khi những người theo chủ nghĩa dị giáo tiến bộ có mục đích “vượt xa hơn” những gì đã được tin tưởng và thực hành.

Sự cám dỗ không ngừng của những tà giáo “tiến bộ” là từ bỏ các mệnh lệnh đạo đức luân lý của Chúa trong khi tuyên bố rằng mình đang ở trong một mối quan hệ loại “mới” hoặc mối quan hệ “được giải phóng” nào đó với Thiên Chúa. Những kẻ lạc giáo này không hiểu được bản chất của tình yêu và giới luật — cụ thể là luật luân lý luôn tuân theo nguyên tắc của tình yêu, rằng không thể có một điều gì đó là sai trái về mặt đạo đức mà lại có tính chất yêu thương, cũng như không thể đúng về mặt đạo đức và không mang tính chất yêu thương. Nhưng chúng ta sẽ phải để cuộc thảo luận đầy đủ hơn về điểm này cho một thời điểm thời khác.

Mà các điều răn của Người có nặng nề gì đâu, vì mọi kẻ đã được Thiên Chúa sinh ra đều thắng được thế gian. Và điều làm cho chúng ta thắng được thế gian, đó là lòng tin của chúng ta. Ai là kẻ thắng được thế gian, nếu không phải là người tin rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa?

Đây là từ phấn chấn nhất từ các lá thư của Thánh Gioan. Còn gì hùng vĩ hơn tuyên bố: “Điều làm cho chúng ta thắng được thế gian, đó là lòng tin của chúng ta.” hoặc “Ai là kẻ thắng được thế gian, nếu không phải là người tin rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa!” Đây là những tuyên bố mà một người muốn in trên một lá cờ hoặc một chiếc áo phông như một lời thách thức và nhắc nhở mạnh mẽ đến với toàn thế giới. Những gì Gioan đang nói là đức tin dẫn chúng ta đến sự tái sinh trong Chúa - điều mà chúng ta biết diễn ra trong bí tích Rửa tội - là món quà của Chúa Thánh Thần giúp chúng ta chiến thắng tội lỗi, sự chết và ma quỷ - ba khía cạnh chính của “thế giới” được hiểu như toàn bộ hệ thống của thế giới chống lại Thiên Chúa. Mục tiêu của “thế giới” ngoài Thiên Chúa là loài người bị vĩnh viễn hủy diệt — do đó, tất cả những ai không chịu khuất phục thế giới và muốn gìn giữ đức tin của mình vào Đấng Kitô sẽ chiến thắng mọi thứ mà thế giới muốn chiếm được, muốn chống đối và họ sẽ thắng thế giới này. Ai có đức tin đã chiến thắng và được tham gia vào thiên quốc.

Chính Đức Giêsu Ki-tô là Đấng đã đến, nhờ nước và máu; không phải chỉ trong nước mà thôi, nhưng trong nước và trong máu. Chính Thần Khí là chứng nhân,
và Thần Khí là sự thật.

Có ba chứng nhân: Thần Khí, nước, và máu. Cả ba cùng làm chứng một điều. Chúng ta vẫn nhận lời chứng của người phàm, thế mà lời chứng của Thiên Chúa còn cao trọng hơn, vì đó là lời chứng của Thiên Chúa, lời Thiên Chúa đã làm chứng về Con của Người.

Nước và máu là những dấu hiệu quan trọng trong Phúc âm Gioan. Nước luôn gắn liền với bí tích Rửa tội, và máu với bí tích Thánh Thể. Hơn nữa, Nước được kết nối với việc Đức Kitô được sinh ra giữa chúng ta, và Máu với viêc tái sinh của Ngài qua việc bị đóng đinh và phục sinh. Sự Nhập Thể (Gioan 1:14) và Sự Phục Sinh (Gioan 11:25) giống như hai cực mà Phúc Âm Gioan xoay quanh. Vì vậy, máu và nước chảy từ bên cạnh sườn Chúa Giêsu (Gioan 19:34), sự nhập thể và phục sinh của Ngài, Lễ Giáng Sinh và Phục Sinh, bí tích Rửa tội và Thánh Thể, cả hai đều trình bày về Chúa Thánh Thần.

“Ba nhân chứng” có thể được hiểu là hai bí tích chính: Rửa tội và Thánh Thể, và qua hai bí tích đó, chúng ta được lãnh nhận Chúa Thánh Thần. Chủ đề “nhân chứng” cũng mạnh mẽ trong Phúc âm Gioan, vì Gioan miêu tả Chúa Giêsu như một công tố viên từ trời xuống để chứng minh sự tội lỗi của thế gian và làm chứng cho lẽ thật của Thiên Chúa. Khi Gioan nói, “Thiên Chúa đã làm chứng về Con Ngài,” nó nói chung về tất cả các dấu mà Thiên Chúa cung cấp để xác minh và biện chứng cho Đức Kitô và sứ điệp của Ngài, đáng kể nhất là qua chính việc Ngài sống lại từ cõi chết. Tiếng nói của Thiên Chúa trong Phép Rửa cũng là một thời điểm đầy ấn tượng về việc “Thiên Chúa làm chứng cho Con Ngài”.

Bài Phúc âm hôm nay là từ Mác-cô 1:7-11:

7 Khi ấy, ông Gio-an rao giảng rằng: “Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người. 8 Tôi thì tôi đã làm phép rửa cho anh em bằng nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em bằng Thánh Thần.”
9 Hồi ấy, Đức Giêsu từ Na-da-rét miền Ga-li-lê đến, và được ông Gio-an làm phép rửa dưới sông Gio-đan. 10 Vừa lên khỏi nước, Người liền thấy các tầng trời xé ra, và thấy Thần Khí như chim bồ câu ngự xuống trên Người. 11 Lại có tiếng từ trời phán : “Lại có tiếng từ trời phán : “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con.”

Trong cuốn sách Jesus and the Dead Sea Scrolls, tôi lập luận rằng Gioan Tẩy giả có thể đã được các tu sĩ người Essene nuôi dưỡng ở bờ tây bắc của Biển Chết, nhưng ông đã rời bỏ họ để hoàn thành sứ mệnh rao giảng tin mừng của ngôn sứ Isaia về ơn cứu rỗi của Thiên Chúa cho toàn thể các quốc gia. Phúc âm Mác-cô mở đầu với việc Gioan Tẩy giả đang làm điều đó, rao giảng tại đồn sông Jordan. Không giống như những người Essenes, Gioan không tuyên bố quyền năng truyền ban Chúa Thánh Linh. Ông nhận thức cách sâu sắc được những giới hạn sứ vụ của mình — phép rửa của Gioan là “bằng nước” —một thể chất và dấu hiệu bên ngoài. Nhưng Đấng sẽ đến, Người có quyền trao ban Chúa Thánh Linh. Rằng Gioan “không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người” là một cụm từ khá kịch tính. Đây là nhiệm vụ của một nô lệ — và nô lệ cấp thấp — đối với chủ nhân của mình. Ông chủ sẽ vào nhà và người nô lệ sẽ đến, tháo dép và rửa chân cho ông. Gioan nói: Tôi không xứng đáng làm nô lệ của Đấng sắp đến. Điều này, cùng với điểm Đấng ấy có quyền gửi Chúa Thánh Linh đến, thực sự đòi hỏi Đấng ấy là Thiên Chúa.

 “Hồi ấy,” Mác-cô nói, rằng “Đức Giêsu đã đến…” Điều này liên quan đến lời tiên tri của Gioan rằng sau ông sẽ có người đến.

Phép rửa của Gioan thực hiện trên Chúa Giêsu thì như là một Sự Sáng Tạo Mới, vì chúng ta nhìn thấy những hình ảnh về sự sáng tạo ban đầu từ sách Sáng Thế chương 1: có trời và đất và nước, và Thánh Linh ngự xuống trên mặt nước. Phép rửa của Chúa Giêsu, giống như Phép Rửa của mỗi một chúng ta, là kinh nghiệm về một cuộc Sáng Tạo Mới (xem 2 Cr 5:17). Thánh Linh trong hình ảnh một con chim hoặc chim bồ câu chỉ ngược về sách Sáng thế ký 1:3, trong đó mô tả Thánh Thần Chúa “bay lượn” (Híp-ri hithhalêk) trên mặt nước. Mác-cô cũng mô tả các tầng trời bị “xé ra”, cùng một từ được dùng để chỉ Môi-se “rẽ ra” Biển Đỏ (Xh 14:21). Ngoài ra, chúng ta cũng nên lưu ý rằng Mác-cô sử dụng thuật ngữ “xé ra”, (tiếng Hy lạp schizô) chỉ ở một nơi khác trong Tin Mừng của ngài, nơi Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Khi Chúa Giêsu tắt thở, tấm màn của Đền thờ bị “xé ra” làm đôi từ trên xuống dưới (tượng trưng cho sự hiện diện của Thiên Chúa rời khỏi Đền thờ và xé tấm màn khi Thiên Chúa rời khỏi nơi đó, hoặc tấm màn che chia cách Thiên Chúa và loài người bị xé làm đôi  — cả hai cách giải thích đều phù hợp ) và vị đại đội trưởng phụ trách việc hành quyết Chúa Giêsu tuyên bố, “Ông này đúng thật là Con Thiên Chúa!”

Chúng ta có thể nhận thấy những điểm tương đồng giữa hai sự kiện này: tấm màn của Đền thờ có màu xanh lam và được trang trí bằng hình ảnh của các thiên thể giống như bầu trời, vì vậy ở cả phần đầu và phần cuối của Phúc âm này, chúng ta có cụm từ “tầng trời xé ra” và lời tuyên xưng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Sau đó, chúng ta cũng có cái chết ở cả hai nơi —  Bí tích Rửa tội là một nghi lễ của sự chết, trong đó người được rửa tội “chết” trong nước và được sống lại với cuộc sống mới, và rõ ràng thập tự giá là “phép rửa” của Chúa trong cái chết chuẩn bị cho sự phục sinh của Ngài. Vì vậy, ngay phần đầu của Phúc âm Mác-cô, chúng ta đã được báo trước phần kết của nó, cũng như lúc khởi đầu của đời sống Kitô hữu, bí tích Rửa tội là sự báo trước về cái chết cuối đời của chúng ta và sự sống lại trong sự sống đời đời.

Tiếng của Thiên Chúa trong cuối bài Phúc Âm tuyên bố một biến thể khác của Thánh vịnh 2:7-8

Tân vương lên tiếng : Tôi xin đọc sắc phong của CHÚA,
Người phán bảo tôi rằng : “Con là con của Cha,
ngày hôm nay Cha đã sinh ra con.
8 Con cứ xin, rồi Cha ban tặng
muôn dân nước làm sản nghiệp riêng,
toàn cõi đất làm phần lãnh địa.

Nhiều Kinh thánh gia cho rằng Thánh vịnh 2 là bài ca đăng quang của một hoàng gia, một bài hát cổ khi mỗi con trai mới của Đa-vít lên ngôi lần đầu tiên. Nó tuyên bố quyền thống trị Thiên Chúa trao ban cho vương triều Đa-vít và quyền thống trên toàn cõi địa cầu mà Thiên Chúa đã hứa với vương triều ấy. Đối với Thiên Chúa Cha, việc lặp lại thánh thi tại thời điểm này trong sứ vụ của Chúa Giêsu thì rất là quan trọng. Phép rửa là điểm khởi đầu cai trị vương quốc của Chúa Giêsu. Khi trở về sau cơn cám dỗ trong sa mạc, lời rao giảng của Ngài sẽ là “Hãy ăn năn sám hối  vì triều đại Thiên Chúa đã đến!” (xem Mc 1,15 trong tiếng Hy Lạp).

Nếu chúng ta nhìn vào Cựu ước, chúng ta thấy rằng có phong tục đưa vị vua mới đến suối Gihon - nơi đó ông theo nghi thức tắm rửa - và sau đó xức dầu cho ông ở đó dưới sự hướng dẫn của vị tư tế trị vì (Zadok) và nhà tiên tri trị vì ( Nathan) (xem 1 Các Vua 1: 32-40). Chúa Giêsu trải nghiệm việc rửa sạch và xức dầu theo nghi thức hoàng tộc của Ngài (bởi Thánh Linh) ngay tại sông Gio-đan dưới thời Gioan, người vừa là tư tế thông qua cha mình là Dacaria (xem Lu-ca 1: 5) vừa là vị tiên tri thời ấy.

Gioan đi đến các đồn lũy của sông Giô-đan để mang lại sự cứu rỗi cho tất cả các quốc gia, và rút cục làm phép rửa cho người được mệnh danh là “sự cứu rỗi” (xem Mt 1:21), người sẽ cai trị mọi quốc gia. Trong Thánh vịnh 2: 7, Thiên Chúa nói, “Con là con của Cha,” nhưng trong Máccô, Thiên Chúa nói, “Con là Con yêu dấu của Cha.” Thuật ngữ được yêu dấu (Hy lạp Agapetos) này gợi nhớ đến hai nhân vật trong Cựu Ước: Isaac, người ba lần trong Sáng thế ký 22 của bản Septuagint được gọi là agapetos hoặc con trai “yêu dấu” của Áp-ra-ham (xem Sáng thế ký 22 LXX). Ngoài ra, Đavít, tên riêng trong tiếng Do Thái có nghĩa là “người yêu quý”. Do đó, ngôn ngữ “con trai yêu dấu” được áp dụng cho Chúa Giêsu kết nối Chúa của chúng ta với hai người trung gian quan trọng của Cựu ước là Isaac và Đa-vít. Điều này tương tự như việc Mátthêu giới thiệu Chúa Giêsu trong Mt 1: 1 là “con của Đa-vít, con của Áp-ra-ham”. Quyền vương giả đã được hứa cho cả hai dòng dõi Áp-ra-ham (Sáng 17: 6) và Đa-vít (2 Sa-mu-ên 7:12), vì vậy điều này củng cố nền tảng hoàng gia của Phép rửa. Sự kết gắn với Isaac cũng báo trước hiến tế của Đức Kitô, vì Isaac được nhớ đến nhiều nhất – Isaac đã được đặt trên gỗ của bàn thờ làm của lễ trên núi Mt. Moriah theo lệnh của tổ phụ Abraham (St 22).

Câu tiếp tục, “Cha hài lòng về Con,” có lẽ bắt nguồn từ các đặc điểm của “người tôi trung huyền bí của CHÚA” trong Isaia 42:1:

Đây là người tôi trung Ta nâng đỡ, là người Ta tuyển chọn và hết lòng quý mến, Ta cho thần khí Ta ngự trên người; người sẽ làm sáng tỏ công lý trước muôn dân.

Cụm từ “Cha hài lòng về Con” có lẽ ám chỉ trong tiếng Do Thái “tâm hồn tôi mến chuộng Người”. Chúng ta có thể thấy bối cảnh của Isaia 42:1 phù hợp như thế nào đối với phép Rửa, vì chúng ta đã đề cập đến “Thần Khí Ta ngự trên Người”, và sau đó là nhiệm vụ hoàng gia là mang lại “công lý cho các quốc gia”.

Vì vậy, như Máccô đã kể lại, phép rửa của Chúa Giêsu thực sự là lễ đăng quang quyền vương đế của Ngài và là sự khởi đầu của triều đại Ngài, quyền cai trị Vương quốc của Thiên Chúa.

Về mặt mục vụ, có một số cách chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa của ngày Lễ hôm nay. Ngày lễ này giúp chúng ta chấp nhận trọn vẹn hơn vương quyền của Đức Kitô trong đời sống chúng ta. Chúa Giêsu không bằng lòng để chỉ là Chúa của một phần cuộc sống chúng ta mà không là Chúa tể trên những phần khác của cuộc sống: có ngóc ngách nào trong cuộc sống mà chúng ta từ chối vương quyền của Chúa Giêsu và từ chối để Ngài cai trị không?

Mặt khác, chúng ta cũng nên nhớ rằng bí tích Rửa tội đặt chúng ta dưới vương quyền của Đức Kitô. Điều này có nghĩa là Ngài có quyền hành trên tất cả tài sản và mọi phạm vi ảnh hưởng của chúng ta với tư cách là phó vương của Chúa Giêsu. Chúng ta đang thực hiện sứ mệnh đó như thế nào? Tôi có dùng quyền của mình trên những hoàn cảnh, đem lại trật tự, công lý và bác ái vào những tình huống đó không? Hay tôi bị choáng ngợp bởi hoàn cảnh của mình, hoặc tệ hơn, nghiện những thứ tôi sở hữu hoặc được trao phó, đến nỗi chúng cai trị tôi? Bổn phận của người giáo dân là thánh hóa trật tự thiên thời. Chúng ta nên đưa vương của Đức Kitô (yêu thương, phục vụ, tha thứ, công bằng…) vào văn phòng, ngân hàng, trường học, bệnh viện, nơi làm việc, ngôi nhà của chúng ta. Chúng ta đang làm điều đó hay chúng ta nghĩ rằng công việc biến đổi xã hội bắt đầu từ một nơi khác hay là trách nhiệm của người khác?

Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy cầu nguyện để chúng ta có thể phục tùng vương quyền của Đức Kitô một cách trọn vẹn hơn và thể hiện tốt hơn vương quyền của Ngài trong cuộc sống của chúng ta.

Share:

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2026

Lễ Hiển Linh

Bài này dịch tạm từ bài viết của Dr. John Bergsma

Từ "Hiển linh/Epiphany" bắt nguồn từ hai từ Hy Lạp: epi, "trên"; và phaino, "xuất hiện, tỏa sáng." Do đó, “Hiển linh/Epiphany” chỉ về thần tính của Chúa Giêsu "chiếu sáng" trên trái đất, nói cách khác, là sự biểu lộ bản tính Thiên Chúa của Ngài.

Lễ Hiển Linh có một lịch sử thú vị, và bắt nguồn từ việc trong phụng vu tưởng niệm các sự kiện khác nhau về thời thơ ấu hoặc sứ vụ ban đầu của Chúa Giêsu, trong đó thần tính của Ngài được mặc khải. Đặc biệt, ba sự kiện đã được Giáo hội sơ khai xác định: cuộc viếng thăm của các đạo sĩ, việc Chúa chịu phép rửa, và việc biến nước thành rượu tại tiệc cưới Cana. Ở các nhà thờ địa phương khác nhau, những ngày để ghi nhớ những sự kiện này đã được cử hành sau Lễ Chúa Giáng sinh. Một số nhà thờ địa phương đã sử dụng thuật ngữ "Epiphany" để chỉ lễ tưởng niệm Chúa Giáng sinh làm rối loạn tình huống thêm nữa. Tuy nhiên, theo thời gian, nghi lễ Latinh đặt Lễ Giáng sinh vào ngày 25 tháng 12 và đặt sự kiện các đạo sĩ viếng thăm làm “Lễ Hiển linh” mười hai ngày sau, vào ngày 6 tháng 1. Do đó này chúng ta có truyền thống “Mười hai ngày of Christmas ”, tức là khoảng thời gian giữa Lễ Giáng sinh và Lễ Hiển linh.

Người ta sẽ nhận thấy rằng trong lịch các bài đọc trong Thánh lễ và kinh phụng vụ đương thời, sự liên kết của Phép Rửa và Tiệc Cưới tại Cana với Lễ Hiển Linh vẫn được duy trì. Lễ Chúa chịu phép rửa thường được cử hành vào Chúa Nhật sau Lễ Hiển Linh, và Chúa Nhật tiếp theo luôn có bài đọc Tin Mừng về tiệc Cưới Cana (Gioan 2: 1-11) hoặc một đoạn Tin Mừng từ Gioan ngay trước tiệc cưới (Gioan 1: 29-42).

Việc sử dụng từ "hiển linh/epiphany" để chỉ về thần tính có trước Kitô giáo. Hoàng đế Antiochus IV của Syria (Seleucid) (trị vì 175-165 trước Công nguyên), một bạo chúa độc ác 1-2 Maccabees tường thuật, tự đặt tên mình là “Epiphanes” vì ông coi mình là biểu hiện của thần tính trên trái đất. Người dân gọi ông là “Epimanes”, có nghĩa đại khái là “thứ gì đó đang đè lên não”, hay nói cách khác là “mất trí”. Antiochus cuối cùng chết trong thất bại; rõ ràng nhân loại sẽ cần phải chờ đợi một vị vua khác là "Hiển linh" thần tính của mình.

Bài đọc cho lễ trọng hôm nay không thay đổi từ năm này sang năm khác, vì vậy những chú giải của tôi phần lớn không thay đổi so với các năm trước:

Bài đọc 1 được lấy từ sách ngôn sứ I-sai-a 60:1-6

Đứng lên, bừng sáng lên, Giê-ru-sa-lem hỡi,
vì ánh sáng của ngươi đến rồi.
Vinh quang của Đức Chúa
như bình minh chiếu toả trên ngươi.
Kìa bóng tối bao trùm mặt đất,
và mây mù phủ lấp chư dân ;
còn trên ngươi, Đức Chúa như bình minh chiếu toả,
vinh quang Người xuất hiện trên ngươi.
Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi,
vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước.
Đưa mắt nhìn tứ phía mà xem,
tất cả đều tập hợp, kéo đến với ngươi :
con trai ngươi từ phương xa tới,
con gái ngươi được ẵm bên hông.
Trước cảnh đó, mặt mày ngươi rạng rỡ,
lòng dạ ngươi hớn hở tưng bừng,
vì nguồn giàu sang sẽ đổ về từ biển cả,
của cải muôn dân nước sẽ tràn đến với ngươi.
Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Ma-đi-an và Ê-pha :
tất cả những người từ Sơ-va kéo đến,
đều mang theo vàng với trầm hương,
và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa.

Trong đoạn trích từ Isaia này, Chúa dùng từ phụ nữ để gọi thành phố Giê-ru-sa-lem— “ngươi” trong suốt đoạn văn là đại từ số ít, giống cái. Đây là cách gọi điển hình của Isaia, và ở một nơi khác ông gọi Giê-ru-sa-lem là “con gái của Si-ôn” hay ngay cả “trinh nữ, cô gái Si-ôn” (Is 37:22). Dĩ nhiên, Si-ôn là sườn núi trên đó Đa-vít xây dựng cung điện hoàng gia, và do đó là trung tâm của thành phố, vì thế là trọng tâm của Giu-đa, là trọng tâm của Israel. Vì vậy, “Si-ôn” hoặc “Giê-ru-sa-lem” thường là được đại diện cho toàn thể dân Chúa chọn.

Là Kitô hữu, chúng ta hiểu “Giê-ru-sa-lem” và “Si-ôn” là để chỉ về Giáo hội, là “Giê-ru-sa-lem trên trời” (xem Híp-ri 12:22). Một cách riêng biệt, Giáo hội được hiện thân nơi Đức Maria, Mẹ của Giáo hội. Đức Maria là “trinh nữ, con gái của Si-ôn” cách riêng biệt. Hơn nữa, vì Si-ôn là vùng hoàng gia của Giê-ru-sa-lem, nên “trinh nữ, con gái của Si-ôn” được dùng để chỉ những cô con gái trinh nữ của nhà vua, những công chúa hoàng gia là những phụ nữ trẻ đẹp nhất, thành đạt và nổi tiếng trong thành. Đức Maria là cô gái đồng trinh của dòng dõi hoàng tộc, một hậu duệ của Vua Đavít. Khi Đức Maria nhìn thấy đoàn lữ hành lạc đà của các đạo sĩ đến nơi ở khiêm tốn của mình, đầy ắp với những món quà phù hợp với một vị vua, được mang đến từ những vùng đất dân ngoại xa xôi, những lời của Isaia 60: 1-6 được ứng nghiệm cách đặc biệt: “Trước cảnh đó, mặt mày ngươi rạng rỡ… vì nguồn giàu sang sẽ đổ về từ biển cả, của cải muôn dân nước sẽ tràn đến với ngươi. ” Như ĐTC Bênêđíctô XVI đã nhận xét trong quyển 3 của Chúa Giêsu thành Nazareth về các câu chuyện thời thơ ấu, “Đức Maria, chính ngài, xuất hiện như  con gái của Si-ôn. Những lời tiên tri của Si-ôn được ứng nghiệm nơi Mẹ cách bất ngờ ”(trang 28 của phiên bản tiếng Anh).

Tóm lại, trong bài đọc thứ nhất này, (Is 60), ngôn sứ Isaia tiên đoán một ngày mà ánh sáng Thiên Chúa sẽ chiếu rọi trên khắp dân Ngài, thu hút các quốc gia, những quốc gia mà sẽ biết ơn ánh sáng này. Sự hiện diện của Thiên Chúa giữa dân tộc của Ngài sẽ không chỉ thu hút những người dân của Chúa (dân Israel) theo truyền thống, mà ngay cả những quốc gia xa xôi có nền văn hóa rất khác nhau, như Sheba (miền nam Ả Rập hoặc Ethiopia). Như chúng ta sẽ thấy, lời tiên tri này có những mối liên hệ quan trọng với bài đọc Tin Mừng.

2. Đáp ca (từ Thánh vịnh 72) là một trong những thánh vịnh quan trọng nhất trong 150 thánh vịnh. Nó xuất hiện ở cuối Sách II của Thánh vịnh (đó là Thánh vịnh 42-72), một trong những Thánh vịnh lạc quan nhất trong năm sách Thánh vịnh, chỉ vượt qua Sách V (Thánh vịnh 107-150) về sự vui mừng. Thánh vịnh 72 được gọi là “về Sa-lô-môn”, nhưng theo truyền thống được hiểu là một Thánh vịnh do Đa-vít viết về Sa-lô-môn chứ không phải do chính Sa-lô-môn viết. Nó mô tả hòa bình và thịnh vượng khôn tưởng tồn tại trong thời gian đầu của triều đại Sa-lô-môn, khi ông còn tuân theo luật pháp của Thiên Chúa và thừa hưởng tất cả mọi phước lành của giao ước Đa-vít. Thật vậy, Thánh vịnh 72 là một điểm cao về cảm xúc và tâm linh của sách Thánh vịnh, cũng như triều đại của Sa-lô-môn là một điểm cao trong lịch sử của dân Israen:

Đ. Lạy Chúa, muôn dân nước sẽ thờ lạy Ngài.
Tâu Thượng Đế, xin ban quyền bính Ngài cho vị Tân Vương,
trao công lý Ngài vào tay Thái Tử,
để Tân Vương xét xử dân Ngài theo công lý,
và bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn.

Đ.Lạy Chúa, muôn dân nước sẽ thờ lạy Ngài.
7Triều đại Người, đua nở hoa công lý
và thái bình thịnh trị
tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn.
Người làm bá chủ từ biển này qua biển nọ,
từ Sông Cả đến tận cùng cõi đất.

Đ. Lạy Chúa, muôn dân nước sẽ thờ lạy Ngài.
Từ Tác-sít và hải đảo xa xăm,
hàng vương giả sẽ về triều cống.
Cả những vua Ả-rập, Xơ-va,
cũng đều tới tiến dâng lễ vật.

Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng,
muôn dân nước thảy đều phụng sự.

Đ. Lạy Chúa, muôn dân nước sẽ thờ lạy Ngài.
Người giải thoát bần dân kêu khổ
và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương,
chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo.
Mạng sống dân nghèo, Người ra tay tế độ.

Đ.Lạy Chúa, muôn dân nước sẽ thờ lạy Ngài.

Triều đại của Sa-lô-môn là một ngóng chờ hoặc dự biểu/type quan trọng về triều đại của Đấng Kitô và việc thành lập Giáo hội. Sa-lô-môn cai trị một đế chế đa quốc gia (I Các Vua 4:21), một đế chế báo trước cho đế chế thiêng liêng đa quốc gia là Giáo hội Công giáo. Sự khôn ngoan của Sa-lô-môn nổi tiếng đến nỗi các nhà thông thái đến nghe ông từ khắp các quốc gia, ngay cả từ phương Đông (1 Các Vua 4: 29-34). Cũng vậy, lần cuối cùng các đoàn lữ hành đến Jerusalem mang theo vàng và trầm hương từ Sheba (được đề cập trong bài đọc thứ nhất) là dưới triều đại của Sa-lô-môn (1 Các Vua 10:10). Tất nhiên, điều này chỉ xảy ra khi Sa-lô-mon ở đỉnh cao quyền lực của mình. Chúa Giê-su vượt trội hơn Sa-lô-môn, bởi vì ngay từ khi còn là hài nhi, các nhà thông thái phương Đông đã đến gặp Ngài để thừa nhận sự vĩ đại của Ngài và tôn vinh ngài. Chúa Giêsu là Con của Đa-vít vĩ đại hơn, khôn ngoan hơn cả Sa-lô-môn.

Sa-lô-môn có trí tuệ uyên bác, nhưng Chúa Giê-su còn hơn nữa, Ngài đem đến một sự khôn ngoan lớn hơn cả sự khôn ngoan, đó là sự khôn ngoan của tình yêu (1 Cr 13: 2). Kinh Thánh luôn ám chỉ rằng tình yêu vượt trên sự khôn ngoan, vì cuốn sách vĩ đại nhất trong ba cuốn sách khôn ngoan cổ đại của Sa-lô-môn là sách Diễm ca. Không phải ngẫu nhiên mà Diễm ca là cuốn sách Cựu ước duy nhất đề cập đến cả ba loại: vàng, nhũ hương và mộc dược (Diễm ca 1:11,13; 3:6,10; 4:6,13; 5:1, 5,11,13,14). Điều này đưa chúng ta trở lại chủ đề hôn nhân đặc trưng cho Kinh thánh. Chúa Giê-su không chỉ là chàng rể được tiên đoán trong nhiều đoạn Kinh thánh từ Cựu ước về vua Đa-vít (ví dụ: Thánh vịnh 45), mà chính Ngài là “sự kết hôn” của bản chất con người và thần tính trong một cá vị. Theo một nghĩa nào đó, Hiển linh/Epiphany là các vị vua của trái đất mang lễ cưới đến cho hôn lễ giữa con người và thần tính.

3. Bài đọc hai được trích từ thư của Thánh Phaolô gửi đến các tín hữu ở Ê-phê-sô. Trong đó, Thánh Phaolô nói đến “mầu nhiệm” của Thiên Chúa mà đến nay mới được tiết lộ cho thế giới, đó là các Dân ngoại (các dân tộc không thuộc dân Israel) là “những thành phần của cùng một thân thể, và những người được thừa hưởng lời hứa trong Đức Giêsu Kitô nhờ Tin Mừng. ”

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ê-phê-xô 3:2-3a;5-6
2 Thưa anh em, hẳn anh em đã được nghe biết về kế hoạch ân sủng mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em. 3a Người đã mặc khải để tôi được biết mầu nhiệm Đức Ki-tô. 5 Mầu nhiệm này, Thiên Chúa đã không cho những người thuộc các thế hệ trước được biết, nhưng nay Người đã dùng Thần Khí mà mặc khải cho các thánh Tông Đồ và ngôn sứ của Người. 6 Mầu nhiệm đó là : trong Đức Ki-tô Giê-su và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do-thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa.

Bài đọc này được chọn vì lời tuyên bố của Thánh Phaolô về dân ngoại “cùng thừa kế gia nghiệp với người Do-thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa”. Các đạo sĩ, với tư cách là các học giả dân ngoại từ một số vùng đất phía đông, là những dân ngoại đầu tiên trong Tân Ước thừa nhận quyền lãnh chúa của Đức Giêsu Kitô. Họ đã nếm trước về sự tụ họp thật đáng kinh ngạc của các quốc gia khác nhau được gia nhập thành dân Chúa mà chúng ta gọi là “Giáo hội”.

Ngày nay, chúng ta coi “tất cả mọi người đều là con cái của Thiên Chúa” là điều hiển nhiên nên thật khó để tạo lại cảm giác mới lạ mà Thánh Phaolô và các Kitô hữu từ Do Thái giáo ban đầu đã cảm nghiệm khi khái niệm các dân tộc ngoại giáo đang được Thiên Chúa mời gia nhập để trở thành dân giao ước của mình. Chắc chắn hầu hết người Do Thái thời cổ đại đều không lường trước được điều này: khi những người phái Essenes ở Qumran, những người đã để lại cho chúng ta bản văn Dead Sea Scrolls, nghĩ rằng tương lai của dân ngoại là sẽ bị hủy diệt hoặc sẽ bị làm nô lệ dưới quyền của đế chế Israelite cai quản toàn thể thế giới (ví dụ, đọc War Scroll, 1QM). Giả thuyết của riêng tôi là Gioan Tẩy giả là một thành viên của nhóm Essenes, nhưng đã bị trục xuất vì ông khăng khăng muốn rao giảng về Nước Chúa cho người dân ngoại. (Xem chương 3 của cuốn sách Jesus and the Dead Sea Scrolls của tôi [Penguin Random House, 2019]).

Đây là một chủ đề mà nhóm Essenes đã không lý luận đúng đắn từ Kinh thánh, bởi vì có vô số lời tiên tri Cựu ước trực tiếp và gián tiếp nói về dân ngoại chia sẻ vào vinh quang của Thiên Chúa với dân Israel trong thời kỳ cuối cùng, kể cả đoạn từ Isaia 60 đã đọc ở trên. (Xem thêm Sáng thế 12:1-3; 22:15-18). Mối liên hệ giữa những lời của Thánh Phao-lô với lễ Hiển Linh thì rất rõ ràng: Các đạo sĩ dân ngoại từ phương Đông, đến để thờ phượng Chúa Giêsu, là một sự nếm trước và trông ngóng, hướng về thời đại của Giáo Hội, khi cánh cửa dẫn đến sự cứu rỗi sẽ rộng mở cho tất cả mọi dân tộc trên trái đất. Nhiều người trong chúng ta nghe lời giảng Urbi et Orbi của Giáo hoàng vào ngày Giáng sinh. Thật là một cảnh tượng xúc động khi chứng kiến ​​điều này, và nghe thấy tiếng hò reo của từng nhóm ngôn ngữ tập trung tại quảng trường dưới bóng của đấng kế vị thánh Phêrô. Đó là một dấu hiệu hữu hình ứng nghiệm lời của các tiên tri xưa của Israel, rằng một ngày nào đó, ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Isaác và Gia-cóp sẽ được thờ phượng bởi tất cả các nước trên trái đất. Ai có thể nghĩ rằng điều này có thể xảy ra vào thời của Isaia, khi quốc gia Israel bị thu hẹp thành một vương quốc chư hầu nhỏ bé ở miền nam Palestine, và sẽ sớm không còn tồn tại như một quốc gia độc lập? Chỉ có sự mặc khải của Thiên Chúa mới có thể cho Isaia thấy trước được một tương lai mà con người không thể nghĩ đến trong thời đại của ông.

4. Bài đọc Phúc Âm tường thuật việc ba đạo sĩ đến thờ lạy Hài nhi Giêsu (Mát-thêu 2:1-12)
Khi Đức Giê-su ra đời tại Bê-lem, miền Giu-đê, thời vua Hê-rô-đê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem, và hỏi : “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu ? Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người.” Nghe tin ấy, vua Hê-rô-đê bối rối, và cả thành Giê-ru-sa-lem cũng xôn xao. Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Ki-tô phải sinh ra ở đâu. Họ trả lời : “Tại Bê-lem, miền Giu-đê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời.”
7 Bấy giờ vua Hê-rô-đê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. Rồi vua phái các vị ấy đi Bê-lem và dặn rằng : “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người.” Nghe nhà vua nói thế, họ ra đi. Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại. Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Ma-ri-a, liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến. Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hê-rô-đê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình.

Các đạo sĩ là những người học giả uyên bác, những nhà khoa học thời họ. Cơ sở kiến ​​thức của họ sẽ bao gồm các nguyên tắc cơ bản của thiên văn học, vốn không khác biệt với chiêm tinh học thời cổ đại. Các chòm sao khác nhau có liên quan đến các nhóm dân tộc khác nhau, và có một “ngôn ngữ” diễn giải nhất định xác định các hiện tượng thiên văn với các sự kiện lịch sử. Theo sự sắp đặt của Chúa, các sự kiện thiên văn xung quanh thời điểm Chúa chúng ta sinh ra đã chỉ ra một dòng dõi hoàng tộc mới trong số những người Do Thái trong lược đồ diễn giải mà các nhà hiền triết phương đông này sử dụng.

Nhân vật Hêrôđê trong bài đọc Tin Mừng của chúng ta phù hợp với tính cách của Hêrôđê mà các sử gia xưa đã ghi lại. Theo nhà sử học Do Thái Josephus, thời trẻ, Hêrôđê là một nhà cai trị tài ba, người đã sớm tạo cho mình quyền lãnh đạo người Do Thái bằng cách đầu tư mạnh vào việc xây dựng lại Đền thờ trên quy mô lớn và thúc đẩy nền kinh tế thông qua hợp tác khéo léo với La Mã. Nhưng khi về già, ông ngày càng trở thành một bạo chúa tàn ác, có lẽ một phần là điên rồ, người đã hành quyết số lượng lớn các đối thủ chính trị cũng như nhiều thành viên trong gia đình mình, bao gồm cả một số vợ và con trai của ông. Là một kẻ xảo quyệt, mục tiêu chính của Hêrôđê trong cuộc sống là duy trì quyền lực của chính mình. Ông luôn cảnh giác trước những mối đe dọa có thể xảy đến với quyền hành của ông, đặc biệt là từ những người tuyên bố là họ ứng nghiệm những lời tiên tri của hoàng gia trong Kinh thánh Do Thái. Ông ta cực kỳ hoang tưởng, càng về già sức khỏe càng suy giảm, và hành vi thất thường của ông ta đã gây ra nỗi sợ hãi, thậm chí kinh hoàng cho những người phải cai quản quốc gia cùng ông ta. Không chút nghi ngờ, phần lớn thành phố và triều đình của ông không hài lòng khi thấy sự xuất hiện của các đạo sĩ với những câu hỏi “sai về mặt chính trị” về một vị vua mới sinh. Những câu hỏi này sẽ kích động hoang tưởng của Hêrôđê; và nếu Hêrôđê trở nên rối loạn, mọi người sẽ chết.

Những món quà mà các đạo sĩ đem dâng tiến mang đậm tính biểu tượng của Kinh thánh. “Nhũ hương và mộc dược” chỉ được đề cập với nhau trong Cựu ước trong sách Diễm ca của Sa-lô-mon.  Chúng là loại nước hoa dành cho hôn nhân được sử dụng bởi Sa-lô-mon và cô dâu của ông để chuẩn bị cho hôn nhân của họ. Ở đây trong sách Mát-thêu, Chúa Giê-su được chỉ ra là Vị Vua, là Chàng rể từ khi Ngài mới sinh ra.

Đồng thời, “vàng và nhũ hương” chỉ được cùng đề cập với nhau trong Kinh thánh trong lời tiên tri Isaia 60: 6, một phần của bài đọc đầu tiên của chúng ta. Có một mối liên hệ rõ ràng của Chúa Giêsu với “ánh sáng” được tiên đoán bởi Isaia, ánh sáng được liên kết với ngôi sao kỳ diệu đưa các đạo sĩ đến với Chúa Hài đồng.

Về ngôi sao này thì có rất nhiều gợi ý — một số gợi ý khá hấp dẫn — đã được đưa ra trong nhiều năm để xác định thiên thể này. Tuy nhiên, một số Giáo phụ (ví dụ như Origen) đã chỉ ra rằng ngôi sao được đề cập phải là một vật thể siêu nhiên, vì các ngôi sao tự nhiên không di chuyển hoặc đứng yên, cũng như không thể đánh dấu một vị trí trên mặt đất nhỏ như Bethlehem, đừng nói đến một ngôi nhà riêng lẻ. Tuy không thể tuyên bố như là giáo điều, tôi tin rằng ngôi sao là một sự xuất hiện siêu nhiên đối với những đạo sĩ này. Thiên Chúa giao tiếp với họ bằng ngôn ngữ mà họ hiểu: ngôn ngữ của các vì sao.

Khi chúng ta suy ngẫm về ý nghĩa của các bài đọc thánh thiêng này cho chính mình vào cuối tuần này, trước hết chúng ta bị ấn tượng bởi sự ứng nghiệm của các lời tiên tri về việc các dân tộc sẽ được quy tụ lại với Chúa Kitô. Giờ đây, vào đầu thiên niên kỷ thứ ba, cứ ba cư dân trên thế giới thì có một người tự nhận mình là tín đồ của Chúa Kitô, tổng cộng là 2,2 tỷ người, trong đó khoảng một nửa là người Công giáo. Ngay cả khi tác giả Tân ước cuối cùng viết thư của mình, dân số theo Kitô giáo nhiều nhất là hàng chục nghìn người, chủ yếu nói tiếng Hy Lạp và tập trung ở phía đông của Đế chế La Mã. Sự mở rộng đáng kinh ngạc của “giáo phái Do Thái” này đến những vùng đất chưa từng được biết đến sẽ là điều hết sức vô lý trong thời cổ đại đó.

Trong thời hiện đại, đức tin đã bùng nổ ở những khu vực từng bị đóng cửa với Giáo hội. Châu Phi cận Sahara, nơi số lượng người theo Kitô giáo thì không đáng kể, thậm chí cả trăm năm trước đây, hiện có khoảng 60% là người là Kitô hữu. Mặc dù luôn luôn có một trận chiến tâm linh đang diễn ra, nhưng đúng là có vô số từ mọi quốc gia đã tụ họp dưới Ánh sáng.

Ở một khía cạnh khác, chúng ta thấy nơi các đạo sĩ sự đại diện của các học giả và khoa học gia, những người cống hiến cuộc đời mình để học hỏi, để đạt được sự khôn ngoan. Những ngôi sao mà họ nghiên cứu chỉ ra sự hiện hữu của Chúa. Nhiều người đã viết về một thực tế đáng ngạc nhiên rằng các định luật và công thức vật lý cho phép các ngôi sao chiếu sáng trong không gian và các hành tinh quay quanh chúng, dường như đều được "tinh chỉnh/ finely tuned", đến nỗi cho các số chuẩn hoặc "hằng số vật lý" mà chúng phụ thuộc vào không thể thay đổi một phần của thậm chí -10 lũy thừa 37 (nghĩa là 0.000....37 số zero..1), cho những hành tinh ít nhạy cảm nhất. Ví dụ, nếu lực hấp dẫn mạnh hơn một chút, vũ trụ sẽ sụp đổ trước khi các hành tinh được hình thành; và nếu nó yếu hơn một chút, các hành tinh và ngôi sao thậm chí sẽ không hình thành. Nếu ánh sáng nhanh hơn một chút, thì vũ trụ sẽ quá nóng để có sự sống; chậm hơn một chút, nó sẽ quá lạnh cho sự sống. Nhiều nhà khoa học và triết gia khoa học đã viết về hiện tượng này, hiện tượng này thường được gọi là “sự tinh chỉnh của vũ trụ”. Cha Robert Spitzer, chẳng hạn, đi sâu vào vấn đề này trong cuốn sách của ông từ nhà xuất bản Ignatius Press, New Proofs for the Existence of God /Những bằng chứng mới chứng minh sự hiện hữu của Chúa. Tuyên bố tôi ưa thích nhất về vấn đề này là từ Sir Fred Hoyle, nhà vật lý thiên văn người Anh vĩ đại nhất thế kỷ XX, và bản thân ông là một người theo thuyết vô thần, dù sao cũng đã thừa nhận:

“Một cách giải thích theo lẽ thông thường về các sự kiện cho thấy rằng một trí óc siêu vời đã thọc tay vào vật lý, cũng như hóa học và sinh học, và không có lực mù quáng nào [theo nghĩa ngoài Đấng rất khôn ngoan] đáng được đề cập đến trong thế giới tự nhiên. Đối với tôi, những con số tính toán từ thực tế dường như quá áp đảo đến mức kết luận này gần như không thể nghi ngờ được nữa.”

Vì vậy, các đạo sĩ đã đúng: nếu một người thì chân thật và đi theo bằng chứng nó đưa ra, việc suy niệm các vì sao sẽ dẫn trí tuệ đến tìm thấy Chúa.

 Những đạo sĩ này đã cởi mở với sự thật, ngay cả khi họ sẽ phải hành trình đến một nơi rất xa xôi và rất khác lạ với nền văn hóa của họ. Họ là những người khôn ngoan, thông thái, họ thể hiện một trí tuệ thực sự sáng suốt. Bằng một cách nào đó (chúng ta không biết rõ ràng), họ đã nhìn thấy nơi Hài nhi Giêsu, món quà của Thiên Chúa cho loài người, dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại. Sự khôn ngoan chân chính nhận ra giới hạn của sự khôn ngoan. Có một cái gì đó cao thượng hơn sự khôn ngoan, và đó là tình yêu (1 Cô-rinh-tô 13: 1-13). Tình yêu là sự khôn ngoan tối thượng. Những trí thức này quỳ gối và cúi đầu trước một điều gì đó vĩ đại hơn mình: Tình yêu của Thiên Chúa, một Tình Yêu khiêm nhường và không gây sợ hãi của một đứa trẻ ngồi trong lòng mẹ mình. Thay vì làm giảm mất đi sự khôn ngoan, sự khiêm tốn của họ khi đối mặt với Tình Yêu sẽ nâng cao sự khôn ngoan.

Những người cống hiến cuộc sống của mình để theo đuổi việc học cần phải tránh cái bẫy của sự kiêu hãnh trí tuệ để thể đem lợi ích đến cho đồng loại. Các đạo sĩ là những học giả đã cúi đầu trí tuệ trước thực tế của tình yêu và sự khiêm tốn. Chúng ta nên noi gương họ.

Share:

Danh thánh Giêsu

“Đây là gia phả Đức Giê-su Ki-tô, con cháu vua Đa-vít, con cháu tổ phụ Áp-ra-ham” (Mt 1:1).

Trong câu mở đầu này, Mát-thêu giới thiệu cho chúng ta Danh thánh của Chúa Giêsu, Danh thánh đã được kêu cầu đến trong lời cầu nguyện ngay từ buổi đầu của Kitô giáo.

Theo quan điểm Kinh thánh, việc chúng ta có thể kêu gọi tên của Chúa Giêsu là điều thật đáng kinh ngạc. Trong đạo Do Thái cổ đại, danh thánh Chúa chỉ được gọi đến một lần mỗi năm và chỉ bởi vị Thượng tế. Giờ đây, qua việc Thiên Chúa xuống thế làm người trong Đức Kitô, chúng ta có đặc ân kêu cầu danh Chúa: Danh hiệu Giêsu mà Con Thiên Chúa đã tiếp nhận khi nhập thể bao hàm mọi tước hiệu. Con người không có quyền gọi tên Thiên Chúa, nhưng khi nhập thể, Ngôi Lời Thiên Chúa đã mặc khải Danh Thánh này và chúng ta có thể xướng lên Danh đó: ‘Giêsu’; ‘Thiên Chúa Cứu Độ’” (GLCG 2666)

Danh thánh Giêsu hàm chứa một quyền lực mạnh mẽ. Đây là tên duy nhất dưới gầm trời này mà chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ. (Cv 4:12). Nhân danh Chúa Giêsu, người bệnh có thể được chữa lành (Mc 16: 17-18; GLCG 1507), tội nhân tìm thấy lòng thương xót (GLCG 1846), và linh hồn gặp được sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Như Sách Giáo lý giải thích, “Danh Người là danh hiệu duy nhất hàm chứa sự Hiện diện thần linh. Đức Giêsu đã phục sinh, ai kêu cầu danh Người sẽ được đón nhận Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến và hiến mạng sống cho họ.” (GLCG #2666).

Danh thánh Chúa Giêsu là một lời cầu nguyện đơn giản, khi được kêu khẩn với lòng yêu mến và sự chú ý (GLCC 2668). Ví dụ, các Kitô hữu qua nhiều thế kỷ đã đọc Lời cầu nguyện danh Chúa Giêsu, họ lặp đi lăp lại cách chậm rãi và trìu mến câu “Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội,” hoặc thậm chí chỉ tên “Chúa Giêsu,” đôi khi hàng trăm lần một ngày, giữa những công việc nhỏ nhặt hàng ngày, hoặc đọc theo nhịp thở của họ trong khi cầu nguyện. Bằng cách này, cuộc sống hàng ngày của chúng ta có thể trở thành một lời cầu nguyện liên lỉ với Chúa Kitô luôn ở trong tâm trí, trên môi miệng và trong trái tim của chúng ta.

Việc kêu cầu danh thánh Chúa Giêsu rất hữu ích trong những lúc bị cám dỗ hoặc thử thách tâm linh. Thánh danh của Chúa Giêsu có quyền năng khiến muôn vật phải quy phục Ngài, vì thế, như Thánh Phaolô đã nói, “Khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giêsu Kitô là Chúa.”(Pl 2, 10-11). – Gospel of Matthew, Catholic Commentaries

Share:

Thứ Tư, 31 tháng 12, 2025

Sinh nhật của Chúa là khởi đầu của hoà bình

Trích bài giảng của thánh Lê-ô Cả, giáo hoàng.

Con Thiên Chúa uy nghi cao cả đã chẳng coi khinh tình trạng trẻ thơ. Với thời gian, trẻ thơ đã lớn, đã đạt tới mức trưởng thành. Sau khi Người đạt được chiến thắng hoàn toàn nhờ cuộc Thương Khó và Phục Sinh, thì tất cả mọi hành động của kiếp người hèn hạ Người đã chấp nhận vì yêu thương chúng ta, đã trở thành quá khứ. Tuy nhiên, ngày lễ hôm nay nhắc lại cho chúng ta những biến cố đầu tiên của Đức Giê-su sinh làm con Đức Trinh Nữ Ma-ri-a. Khi mừng kính ngày giáng sinh của Đấng Cứu Thế, chúng ta cũng mừng chính nguồn gốc của mình.

Thật vậy, ngày Đức Ki-tô giáng sinh cũng là ngày dân Ki-tô hữu khởi đầu. Mừng sinh nhật của đầu là mừng sinh nhật của thân thể.

Dĩ nhiên mỗi người được mời gọi theo phiên thứ của mình. Con cái của Hội Thánh xuất hiện vào những thời điểm khác nhau. Nhưng vì toàn thể các tín hữu đều sinh ra từ giếng nước thánh tẩy, đều cùng chịu đóng đinh với Đức Ki-tô trong cuộc Thương Khó, cùng sống lại với Người trong mầu nhiệm Phục Sinh, cùng được đặt với Người bên hữu Chúa Cha trong mầu nhiệm Thăng Thiên, thì tất cả cũng được sinh ra cùng với Người trong mầu nhiệm Giáng Sinh này.

Người tín hữu thuộc bất cứ phần đất nào trên thế giới, đã được tái sinh trong Đức Ki-tô sau khi từ bỏ đường tội lỗi của con người cũ, thì cũng nhờ được tái sinh mà trở nên người mới. Người ấy không còn thuộc dòng giống cha ông theo huyết nhục, nhưng thuộc dòng tộc Đấng Cứu Thế là Đấng đã trở nên con của loài người để chúng ta được làm con cái Thiên Chúa.

Thật vậy, nếu Người không tự hạ mình và xuống với chúng ta, thì không ai có thể nhờ công nghiệp của riêng mình mà đến với Người được.

Chúa ban cho ta một ân huệ vừa lớn lao, vừa huy hoàng như thế, thì chúng ta phải mừng kính sao cho xứng hợp. Quả vậy, như lời thánh Tông Đồ, chúng ta đã nhận được không phải tinh thần thế tục, nhưng là Thánh Thần phát xuất từ Thiên Chúa, để nhận biết những hồng ân Người ban tặng. Chúng ta chỉ có thể tôn thờ Người cách xứng hợp khi ta dâng cho Người những gì Người đã ban cho ta.

Vậy, trong kho tàng Thiên Chúa đã rộng ban, chúng ta có thể tìm thấy điều gì xứng hợp để mừng kính ngày lễ này cho bằng sự bình an đã được các thiên thần công bố trong ngày Chúa giáng sinh ? Đây chính là sự bình an sinh ra những con cái của Thiên Chúa, sự bình an nuôi dưỡng tình yêu, tạo nên sự hợp nhất, cho các thánh được nghỉ yên, dẫn tới chỗ cư ngụ muôn đời. Việc chính của bình an, hoa quả đặc thù của bình an là tách biệt con người ra khỏi thế gian mà cho kết hợp với Thiên Chúa.

Vậy, những người được sinh ra không phải do khí huyết, cũng không phải do ý muốn tự nhiên của con người, hoặc do ý muốn của phái nam, nhưng do chính Thiên Chúa, phải dâng lên Chúa Cha sự đồng tâm nhất trí của những người con xây dựng hoà bình. Tất cả những ai được Thiên Chúa nhận làm con, hãy cùng nhau tìm đến với vị Trưởng Tử của tạo thành mới ; Người đã đến không phải để làm theo ý riêng mình, nhưng là để làm theo ý Đấng đã sai mình. Những người được Chúa Cha cho thừa hưởng ân huệ làm con không phải là những người bất hoà, chia rẽ, nhưng là những người có cùng một tâm tình, có cùng một tình yêu. Được tái tạo theo một hình ảnh duy nhất, họ phải có tâm hồn tương xứng với hình ảnh ấy.

Sinh nhật của Chúa là khởi đầu của hoà bình, như lời thánh Tông Đồ : Chính Người là bình an của chúng ta, Người đã liên kết đôi bên. Dù chúng ta là dân Do-thái hay dân ngoại, nhưng chính nhờ Người, tất cả chúng ta được liên kết trong một thần khí duy nhất mà đến cùng Chúa Cha.

Share:

Thứ Sáu, 26 tháng 12, 2025

Chúng ta sẽ làm gì cho tới khi Chúa đến lần thứ hai?

Michael Knowles: Chúng ta biết câu chuyện bắt đầu như thế nào. Chúng ta biết bước ngoặt của câu chuyện là gì, đó chính là mầu nhiệm Nhập Thể. Chúng ta thậm chí còn biết câu chuyện sẽ kết thúc ra sao. Thế nhưng, chúng ta đang sống trong một khoảng thời gian treo lơ lửng của lịch sử, nơi chúng ta được mời gọi phải làm một điều gì đó, và đang cố gắng phân định xem chính xác mình phải làm gì.

Chúng ta cũng đang hướng về khi Chúa đến lần thứ hai, một biến cố có lẽ sẽ đến sớm hơn nhiều người nghĩ. Chúng ta không biết ngày hay giờ; biến cố ấy có thể đến bất ngờ. Cụ thể và tích cực, chúng ta phải chuẩn bị bản thân thế nào?

Bishop Barron: Chúng ta phải cùng nhau sống như Hội Thánh. Chúa Giêsu nói: Con là Phêrô, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng được. Giáo Hội là dấu chỉ của việc gieo hạt giống sự sống của Đức Kitô vào thế giới. Đức Kitô đến trong mầu nhiệm Nhập Thể, và trong mầu nhiệm nhập thể chúng ta được cứu độ. Tôi nói điều đó với tư cách là người Công giáo, không chỉ thập giá mà thôi; đó là đỉnh điểm. Nhưng nhờ trọng vẹn mầu nhiệm nhập thể, chúng ta được cứu độ.

Vậy điều gì làm cho mầu nhiệm Nhập Thể được tếp diễn xuyên suốt không gian và thời gian? Lần nữa, theo quan điểm Công giáo, đó chính là Hội Thánh. Qua giáo huấn chính thức của Hội Thánh, qua các bí tích, đặc biệt là Thánh Thể, qua quyền bính tông truyền, qua các thánh, sự sống của Đức Kitô được tiếp tục hiện diện trong thế giới.

Hãy trở về sách Công Vụ Tông Đồ. Đức Kitô phục sinh và lên trời, Ngài lên trời không để không còn ở đây nữa, ở trên đó và xa khỏi đây. Tạm biệt Chúa Giêsu. Không hề. Hình ảnh đúng hơn là một vị tướng chiếm lĩnh điểm cao để có cái nhìn bao quát toàn bộ chiến trường. Đức Kitô thăng thiên để sai Thánh Thần của Người xuống trên Hội Thánh, nhằm tái tạo thế giới.

Thật vậy, Nhập Thể chính là việc Thiên Chúa tái tạo công trình tạo dựng của Người.

Kitô giáo không chơi trò chơi mang tính Platon. Kitô hữu không theo thuyết nhị nguyên hay ngộ đạo, cho rằng thế giới sa ngã thì xấu xa, vật chất thì tệ hại, và cần phải trốn chạy càng sớm càng tốt. Đó hoàn toàn không phải là linh đạo Kinh Thánh.

Linh đạo Kinh Thánh khẳng định rằng Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa chưa bao giờ bỏ rơi thế giới của Người. Người muốn cứu độ, chữa lành, phục hồi nó, và sau cùng nâng nó lên tới mức hoàn hảo cao nhất. Mầu nhiệm Nhập Thể chính là phương thế Thiên Chúa dùng để thực hiện công cuộc chữa lành vĩ đại của vũ trụ. Hội Thánh, Nhiệm Thể của Đức Giêsu, tiếp tục công trình ấy trong thế giới hôm nay. Và khi chúng ta chờ đợi sự hoàn tất sau cùng, điều mà chúng ta gọi là Cuộc Quang Lâm lần thứ hai thì mọi sự sẽ được quy tụ lại.

Có một thuật ngữ Hy Lạp rất đẹp, thánh Phaolô dùng và các Giáo Phụ rất yêu thích: anakephalaiōsis. Đó là từ dễ nhớ và từ rất đẹp. Trong tiếng Latinh, từ này được dịch là recapitulatio, “quy tụ dưới một thủ lãnh”. Đó chính là việc mọi sự được quy tụ dưới quyền thủ lãnh của Đức Giêsu Kitô. Đó là anakephalaiōsis, nghĩa là recapitulatio, quy tụ lại. Thánh I-rê-nê rất yêu thích ý tưởng này, nó ở ngay trong thư của Thánh Phaolô và thánh Tôma Aquinô cũng vậy.

Cuộc Quang Lâm chính là khoảnh khắc mọi sự được quy tụ lại trong hình dạng đã được chữa lành và cứu chuộc, dưới quyền thủ lãnh của Đức Kitô. Vậy quay lại câu hỏi ban đầu: trong khi chờ đợi, chúng ta phải làm gì?

Chúng ta là Hội thánh cùng sống với nhau. Chúng ta sống như Thành của Thiên Chúa đang hoạt động trong thế giới này, trong khi chờ đợi Người. Chúng ta không tự làm cho điều đó xảy ra, nhưng dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, chúng ta sống theo ý định và kế hoạch của Thiên Chúa.

Share:

Tiêu đề

Blog Archive

Labels

Blog Archive