Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2026

Lễ Hiển Linh

Bài này dịch tạm từ bài viết của Dr. John Bergsma

Từ "Hiển linh/Epiphany" bắt nguồn từ hai từ Hy Lạp: epi, "trên"; và phaino, "xuất hiện, tỏa sáng." Do đó, “Hiển linh/Epiphany” chỉ về thần tính của Chúa Giêsu "chiếu sáng" trên trái đất, nói cách khác, là sự biểu lộ bản tính Thiên Chúa của Ngài.

Lễ Hiển Linh có một lịch sử thú vị, và bắt nguồn từ việc trong phụng vu tưởng niệm các sự kiện khác nhau về thời thơ ấu hoặc sứ vụ ban đầu của Chúa Giêsu, trong đó thần tính của Ngài được mặc khải. Đặc biệt, ba sự kiện đã được Giáo hội sơ khai xác định: cuộc viếng thăm của các đạo sĩ, việc Chúa chịu phép rửa, và việc biến nước thành rượu tại tiệc cưới Cana. Ở các nhà thờ địa phương khác nhau, những ngày để ghi nhớ những sự kiện này đã được cử hành sau Lễ Chúa Giáng sinh. Một số nhà thờ địa phương đã sử dụng thuật ngữ "Epiphany" để chỉ lễ tưởng niệm Chúa Giáng sinh làm rối loạn tình huống thêm nữa. Tuy nhiên, theo thời gian, nghi lễ Latinh đặt Lễ Giáng sinh vào ngày 25 tháng 12 và đặt sự kiện các đạo sĩ viếng thăm làm “Lễ Hiển linh” mười hai ngày sau, vào ngày 6 tháng 1. Do đó này chúng ta có truyền thống “Mười hai ngày of Christmas ”, tức là khoảng thời gian giữa Lễ Giáng sinh và Lễ Hiển linh.

Người ta sẽ nhận thấy rằng trong lịch các bài đọc trong Thánh lễ và kinh phụng vụ đương thời, sự liên kết của Phép Rửa và Tiệc Cưới tại Cana với Lễ Hiển Linh vẫn được duy trì. Lễ Chúa chịu phép rửa thường được cử hành vào Chúa Nhật sau Lễ Hiển Linh, và Chúa Nhật tiếp theo luôn có bài đọc Tin Mừng về tiệc Cưới Cana (Gioan 2: 1-11) hoặc một đoạn Tin Mừng từ Gioan ngay trước tiệc cưới (Gioan 1: 29-42).

Việc sử dụng từ "hiển linh/epiphany" để chỉ về thần tính có trước Kitô giáo. Hoàng đế Antiochus IV của Syria (Seleucid) (trị vì 175-165 trước Công nguyên), một bạo chúa độc ác 1-2 Maccabees tường thuật, tự đặt tên mình là “Epiphanes” vì ông coi mình là biểu hiện của thần tính trên trái đất. Người dân gọi ông là “Epimanes”, có nghĩa đại khái là “thứ gì đó đang đè lên não”, hay nói cách khác là “mất trí”. Antiochus cuối cùng chết trong thất bại; rõ ràng nhân loại sẽ cần phải chờ đợi một vị vua khác là "Hiển linh" thần tính của mình.

Bài đọc cho lễ trọng hôm nay không thay đổi từ năm này sang năm khác, vì vậy những chú giải của tôi phần lớn không thay đổi so với các năm trước:

Bài đọc 1 được lấy từ sách ngôn sứ I-sai-a 60:1-6

Đứng lên, bừng sáng lên, Giê-ru-sa-lem hỡi,
vì ánh sáng của ngươi đến rồi.
Vinh quang của Đức Chúa
như bình minh chiếu toả trên ngươi.
Kìa bóng tối bao trùm mặt đất,
và mây mù phủ lấp chư dân ;
còn trên ngươi, Đức Chúa như bình minh chiếu toả,
vinh quang Người xuất hiện trên ngươi.
Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi,
vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước.
Đưa mắt nhìn tứ phía mà xem,
tất cả đều tập hợp, kéo đến với ngươi :
con trai ngươi từ phương xa tới,
con gái ngươi được ẵm bên hông.
Trước cảnh đó, mặt mày ngươi rạng rỡ,
lòng dạ ngươi hớn hở tưng bừng,
vì nguồn giàu sang sẽ đổ về từ biển cả,
của cải muôn dân nước sẽ tràn đến với ngươi.
Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Ma-đi-an và Ê-pha :
tất cả những người từ Sơ-va kéo đến,
đều mang theo vàng với trầm hương,
và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa.

Trong đoạn trích từ Isaia này, Chúa dùng từ phụ nữ để gọi thành phố Giê-ru-sa-lem— “ngươi” trong suốt đoạn văn là đại từ số ít, giống cái. Đây là cách gọi điển hình của Isaia, và ở một nơi khác ông gọi Giê-ru-sa-lem là “con gái của Si-ôn” hay ngay cả “trinh nữ, cô gái Si-ôn” (Is 37:22). Dĩ nhiên, Si-ôn là sườn núi trên đó Đa-vít xây dựng cung điện hoàng gia, và do đó là trung tâm của thành phố, vì thế là trọng tâm của Giu-đa, là trọng tâm của Israel. Vì vậy, “Si-ôn” hoặc “Giê-ru-sa-lem” thường là được đại diện cho toàn thể dân Chúa chọn.

Là Kitô hữu, chúng ta hiểu “Giê-ru-sa-lem” và “Si-ôn” là để chỉ về Giáo hội, là “Giê-ru-sa-lem trên trời” (xem Híp-ri 12:22). Một cách riêng biệt, Giáo hội được hiện thân nơi Đức Maria, Mẹ của Giáo hội. Đức Maria là “trinh nữ, con gái của Si-ôn” cách riêng biệt. Hơn nữa, vì Si-ôn là vùng hoàng gia của Giê-ru-sa-lem, nên “trinh nữ, con gái của Si-ôn” được dùng để chỉ những cô con gái trinh nữ của nhà vua, những công chúa hoàng gia là những phụ nữ trẻ đẹp nhất, thành đạt và nổi tiếng trong thành. Đức Maria là cô gái đồng trinh của dòng dõi hoàng tộc, một hậu duệ của Vua Đavít. Khi Đức Maria nhìn thấy đoàn lữ hành lạc đà của các đạo sĩ đến nơi ở khiêm tốn của mình, đầy ắp với những món quà phù hợp với một vị vua, được mang đến từ những vùng đất dân ngoại xa xôi, những lời của Isaia 60: 1-6 được ứng nghiệm cách đặc biệt: “Trước cảnh đó, mặt mày ngươi rạng rỡ… vì nguồn giàu sang sẽ đổ về từ biển cả, của cải muôn dân nước sẽ tràn đến với ngươi. ” Như ĐTC Bênêđíctô XVI đã nhận xét trong quyển 3 của Chúa Giêsu thành Nazareth về các câu chuyện thời thơ ấu, “Đức Maria, chính ngài, xuất hiện như  con gái của Si-ôn. Những lời tiên tri của Si-ôn được ứng nghiệm nơi Mẹ cách bất ngờ ”(trang 28 của phiên bản tiếng Anh).

Tóm lại, trong bài đọc thứ nhất này, (Is 60), ngôn sứ Isaia tiên đoán một ngày mà ánh sáng Thiên Chúa sẽ chiếu rọi trên khắp dân Ngài, thu hút các quốc gia, những quốc gia mà sẽ biết ơn ánh sáng này. Sự hiện diện của Thiên Chúa giữa dân tộc của Ngài sẽ không chỉ thu hút những người dân của Chúa (dân Israel) theo truyền thống, mà ngay cả những quốc gia xa xôi có nền văn hóa rất khác nhau, như Sheba (miền nam Ả Rập hoặc Ethiopia). Như chúng ta sẽ thấy, lời tiên tri này có những mối liên hệ quan trọng với bài đọc Tin Mừng.

2. Đáp ca (từ Thánh vịnh 72) là một trong những thánh vịnh quan trọng nhất trong 150 thánh vịnh. Nó xuất hiện ở cuối Sách II của Thánh vịnh (đó là Thánh vịnh 42-72), một trong những Thánh vịnh lạc quan nhất trong năm sách Thánh vịnh, chỉ vượt qua Sách V (Thánh vịnh 107-150) về sự vui mừng. Thánh vịnh 72 được gọi là “về Sa-lô-môn”, nhưng theo truyền thống được hiểu là một Thánh vịnh do Đa-vít viết về Sa-lô-môn chứ không phải do chính Sa-lô-môn viết. Nó mô tả hòa bình và thịnh vượng khôn tưởng tồn tại trong thời gian đầu của triều đại Sa-lô-môn, khi ông còn tuân theo luật pháp của Thiên Chúa và thừa hưởng tất cả mọi phước lành của giao ước Đa-vít. Thật vậy, Thánh vịnh 72 là một điểm cao về cảm xúc và tâm linh của sách Thánh vịnh, cũng như triều đại của Sa-lô-môn là một điểm cao trong lịch sử của dân Israen:

Đ. Lạy Chúa, muôn dân nước sẽ thờ lạy Ngài.
Tâu Thượng Đế, xin ban quyền bính Ngài cho vị Tân Vương,
trao công lý Ngài vào tay Thái Tử,
để Tân Vương xét xử dân Ngài theo công lý,
và bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn.

Đ.Lạy Chúa, muôn dân nước sẽ thờ lạy Ngài.
7Triều đại Người, đua nở hoa công lý
và thái bình thịnh trị
tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn.
Người làm bá chủ từ biển này qua biển nọ,
từ Sông Cả đến tận cùng cõi đất.

Đ. Lạy Chúa, muôn dân nước sẽ thờ lạy Ngài.
Từ Tác-sít và hải đảo xa xăm,
hàng vương giả sẽ về triều cống.
Cả những vua Ả-rập, Xơ-va,
cũng đều tới tiến dâng lễ vật.

Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng,
muôn dân nước thảy đều phụng sự.

Đ. Lạy Chúa, muôn dân nước sẽ thờ lạy Ngài.
Người giải thoát bần dân kêu khổ
và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương,
chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo.
Mạng sống dân nghèo, Người ra tay tế độ.

Đ.Lạy Chúa, muôn dân nước sẽ thờ lạy Ngài.

Triều đại của Sa-lô-môn là một ngóng chờ hoặc dự biểu/type quan trọng về triều đại của Đấng Kitô và việc thành lập Giáo hội. Sa-lô-môn cai trị một đế chế đa quốc gia (I Các Vua 4:21), một đế chế báo trước cho đế chế thiêng liêng đa quốc gia là Giáo hội Công giáo. Sự khôn ngoan của Sa-lô-môn nổi tiếng đến nỗi các nhà thông thái đến nghe ông từ khắp các quốc gia, ngay cả từ phương Đông (1 Các Vua 4: 29-34). Cũng vậy, lần cuối cùng các đoàn lữ hành đến Jerusalem mang theo vàng và trầm hương từ Sheba (được đề cập trong bài đọc thứ nhất) là dưới triều đại của Sa-lô-môn (1 Các Vua 10:10). Tất nhiên, điều này chỉ xảy ra khi Sa-lô-mon ở đỉnh cao quyền lực của mình. Chúa Giê-su vượt trội hơn Sa-lô-môn, bởi vì ngay từ khi còn là hài nhi, các nhà thông thái phương Đông đã đến gặp Ngài để thừa nhận sự vĩ đại của Ngài và tôn vinh ngài. Chúa Giêsu là Con của Đa-vít vĩ đại hơn, khôn ngoan hơn cả Sa-lô-môn.

Sa-lô-môn có trí tuệ uyên bác, nhưng Chúa Giê-su còn hơn nữa, Ngài đem đến một sự khôn ngoan lớn hơn cả sự khôn ngoan, đó là sự khôn ngoan của tình yêu (1 Cr 13: 2). Kinh Thánh luôn ám chỉ rằng tình yêu vượt trên sự khôn ngoan, vì cuốn sách vĩ đại nhất trong ba cuốn sách khôn ngoan cổ đại của Sa-lô-môn là sách Diễm ca. Không phải ngẫu nhiên mà Diễm ca là cuốn sách Cựu ước duy nhất đề cập đến cả ba loại: vàng, nhũ hương và mộc dược (Diễm ca 1:11,13; 3:6,10; 4:6,13; 5:1, 5,11,13,14). Điều này đưa chúng ta trở lại chủ đề hôn nhân đặc trưng cho Kinh thánh. Chúa Giê-su không chỉ là chàng rể được tiên đoán trong nhiều đoạn Kinh thánh từ Cựu ước về vua Đa-vít (ví dụ: Thánh vịnh 45), mà chính Ngài là “sự kết hôn” của bản chất con người và thần tính trong một cá vị. Theo một nghĩa nào đó, Hiển linh/Epiphany là các vị vua của trái đất mang lễ cưới đến cho hôn lễ giữa con người và thần tính.

3. Bài đọc hai được trích từ thư của Thánh Phaolô gửi đến các tín hữu ở Ê-phê-sô. Trong đó, Thánh Phaolô nói đến “mầu nhiệm” của Thiên Chúa mà đến nay mới được tiết lộ cho thế giới, đó là các Dân ngoại (các dân tộc không thuộc dân Israel) là “những thành phần của cùng một thân thể, và những người được thừa hưởng lời hứa trong Đức Giêsu Kitô nhờ Tin Mừng. ”

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ê-phê-xô 3:2-3a;5-6
2 Thưa anh em, hẳn anh em đã được nghe biết về kế hoạch ân sủng mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em. 3a Người đã mặc khải để tôi được biết mầu nhiệm Đức Ki-tô. 5 Mầu nhiệm này, Thiên Chúa đã không cho những người thuộc các thế hệ trước được biết, nhưng nay Người đã dùng Thần Khí mà mặc khải cho các thánh Tông Đồ và ngôn sứ của Người. 6 Mầu nhiệm đó là : trong Đức Ki-tô Giê-su và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do-thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa.

Bài đọc này được chọn vì lời tuyên bố của Thánh Phaolô về dân ngoại “cùng thừa kế gia nghiệp với người Do-thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa”. Các đạo sĩ, với tư cách là các học giả dân ngoại từ một số vùng đất phía đông, là những dân ngoại đầu tiên trong Tân Ước thừa nhận quyền lãnh chúa của Đức Giêsu Kitô. Họ đã nếm trước về sự tụ họp thật đáng kinh ngạc của các quốc gia khác nhau được gia nhập thành dân Chúa mà chúng ta gọi là “Giáo hội”.

Ngày nay, chúng ta coi “tất cả mọi người đều là con cái của Thiên Chúa” là điều hiển nhiên nên thật khó để tạo lại cảm giác mới lạ mà Thánh Phaolô và các Kitô hữu từ Do Thái giáo ban đầu đã cảm nghiệm khi khái niệm các dân tộc ngoại giáo đang được Thiên Chúa mời gia nhập để trở thành dân giao ước của mình. Chắc chắn hầu hết người Do Thái thời cổ đại đều không lường trước được điều này: khi những người phái Essenes ở Qumran, những người đã để lại cho chúng ta bản văn Dead Sea Scrolls, nghĩ rằng tương lai của dân ngoại là sẽ bị hủy diệt hoặc sẽ bị làm nô lệ dưới quyền của đế chế Israelite cai quản toàn thể thế giới (ví dụ, đọc War Scroll, 1QM). Giả thuyết của riêng tôi là Gioan Tẩy giả là một thành viên của nhóm Essenes, nhưng đã bị trục xuất vì ông khăng khăng muốn rao giảng về Nước Chúa cho người dân ngoại. (Xem chương 3 của cuốn sách Jesus and the Dead Sea Scrolls của tôi [Penguin Random House, 2019]).

Đây là một chủ đề mà nhóm Essenes đã không lý luận đúng đắn từ Kinh thánh, bởi vì có vô số lời tiên tri Cựu ước trực tiếp và gián tiếp nói về dân ngoại chia sẻ vào vinh quang của Thiên Chúa với dân Israel trong thời kỳ cuối cùng, kể cả đoạn từ Isaia 60 đã đọc ở trên. (Xem thêm Sáng thế 12:1-3; 22:15-18). Mối liên hệ giữa những lời của Thánh Phao-lô với lễ Hiển Linh thì rất rõ ràng: Các đạo sĩ dân ngoại từ phương Đông, đến để thờ phượng Chúa Giêsu, là một sự nếm trước và trông ngóng, hướng về thời đại của Giáo Hội, khi cánh cửa dẫn đến sự cứu rỗi sẽ rộng mở cho tất cả mọi dân tộc trên trái đất. Nhiều người trong chúng ta nghe lời giảng Urbi et Orbi của Giáo hoàng vào ngày Giáng sinh. Thật là một cảnh tượng xúc động khi chứng kiến ​​điều này, và nghe thấy tiếng hò reo của từng nhóm ngôn ngữ tập trung tại quảng trường dưới bóng của đấng kế vị thánh Phêrô. Đó là một dấu hiệu hữu hình ứng nghiệm lời của các tiên tri xưa của Israel, rằng một ngày nào đó, ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Isaác và Gia-cóp sẽ được thờ phượng bởi tất cả các nước trên trái đất. Ai có thể nghĩ rằng điều này có thể xảy ra vào thời của Isaia, khi quốc gia Israel bị thu hẹp thành một vương quốc chư hầu nhỏ bé ở miền nam Palestine, và sẽ sớm không còn tồn tại như một quốc gia độc lập? Chỉ có sự mặc khải của Thiên Chúa mới có thể cho Isaia thấy trước được một tương lai mà con người không thể nghĩ đến trong thời đại của ông.

4. Bài đọc Phúc Âm tường thuật việc ba đạo sĩ đến thờ lạy Hài nhi Giêsu (Mát-thêu 2:1-12)
Khi Đức Giê-su ra đời tại Bê-lem, miền Giu-đê, thời vua Hê-rô-đê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem, và hỏi : “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu ? Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người.” Nghe tin ấy, vua Hê-rô-đê bối rối, và cả thành Giê-ru-sa-lem cũng xôn xao. Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Ki-tô phải sinh ra ở đâu. Họ trả lời : “Tại Bê-lem, miền Giu-đê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời.”
7 Bấy giờ vua Hê-rô-đê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. Rồi vua phái các vị ấy đi Bê-lem và dặn rằng : “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người.” Nghe nhà vua nói thế, họ ra đi. Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại. Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Ma-ri-a, liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến. Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hê-rô-đê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình.

Các đạo sĩ là những người học giả uyên bác, những nhà khoa học thời họ. Cơ sở kiến ​​thức của họ sẽ bao gồm các nguyên tắc cơ bản của thiên văn học, vốn không khác biệt với chiêm tinh học thời cổ đại. Các chòm sao khác nhau có liên quan đến các nhóm dân tộc khác nhau, và có một “ngôn ngữ” diễn giải nhất định xác định các hiện tượng thiên văn với các sự kiện lịch sử. Theo sự sắp đặt của Chúa, các sự kiện thiên văn xung quanh thời điểm Chúa chúng ta sinh ra đã chỉ ra một dòng dõi hoàng tộc mới trong số những người Do Thái trong lược đồ diễn giải mà các nhà hiền triết phương đông này sử dụng.

Nhân vật Hêrôđê trong bài đọc Tin Mừng của chúng ta phù hợp với tính cách của Hêrôđê mà các sử gia xưa đã ghi lại. Theo nhà sử học Do Thái Josephus, thời trẻ, Hêrôđê là một nhà cai trị tài ba, người đã sớm tạo cho mình quyền lãnh đạo người Do Thái bằng cách đầu tư mạnh vào việc xây dựng lại Đền thờ trên quy mô lớn và thúc đẩy nền kinh tế thông qua hợp tác khéo léo với La Mã. Nhưng khi về già, ông ngày càng trở thành một bạo chúa tàn ác, có lẽ một phần là điên rồ, người đã hành quyết số lượng lớn các đối thủ chính trị cũng như nhiều thành viên trong gia đình mình, bao gồm cả một số vợ và con trai của ông. Là một kẻ xảo quyệt, mục tiêu chính của Hêrôđê trong cuộc sống là duy trì quyền lực của chính mình. Ông luôn cảnh giác trước những mối đe dọa có thể xảy đến với quyền hành của ông, đặc biệt là từ những người tuyên bố là họ ứng nghiệm những lời tiên tri của hoàng gia trong Kinh thánh Do Thái. Ông ta cực kỳ hoang tưởng, càng về già sức khỏe càng suy giảm, và hành vi thất thường của ông ta đã gây ra nỗi sợ hãi, thậm chí kinh hoàng cho những người phải cai quản quốc gia cùng ông ta. Không chút nghi ngờ, phần lớn thành phố và triều đình của ông không hài lòng khi thấy sự xuất hiện của các đạo sĩ với những câu hỏi “sai về mặt chính trị” về một vị vua mới sinh. Những câu hỏi này sẽ kích động hoang tưởng của Hêrôđê; và nếu Hêrôđê trở nên rối loạn, mọi người sẽ chết.

Những món quà mà các đạo sĩ đem dâng tiến mang đậm tính biểu tượng của Kinh thánh. “Nhũ hương và mộc dược” chỉ được đề cập với nhau trong Cựu ước trong sách Diễm ca của Sa-lô-mon.  Chúng là loại nước hoa dành cho hôn nhân được sử dụng bởi Sa-lô-mon và cô dâu của ông để chuẩn bị cho hôn nhân của họ. Ở đây trong sách Mát-thêu, Chúa Giê-su được chỉ ra là Vị Vua, là Chàng rể từ khi Ngài mới sinh ra.

Đồng thời, “vàng và nhũ hương” chỉ được cùng đề cập với nhau trong Kinh thánh trong lời tiên tri Isaia 60: 6, một phần của bài đọc đầu tiên của chúng ta. Có một mối liên hệ rõ ràng của Chúa Giêsu với “ánh sáng” được tiên đoán bởi Isaia, ánh sáng được liên kết với ngôi sao kỳ diệu đưa các đạo sĩ đến với Chúa Hài đồng.

Về ngôi sao này thì có rất nhiều gợi ý — một số gợi ý khá hấp dẫn — đã được đưa ra trong nhiều năm để xác định thiên thể này. Tuy nhiên, một số Giáo phụ (ví dụ như Origen) đã chỉ ra rằng ngôi sao được đề cập phải là một vật thể siêu nhiên, vì các ngôi sao tự nhiên không di chuyển hoặc đứng yên, cũng như không thể đánh dấu một vị trí trên mặt đất nhỏ như Bethlehem, đừng nói đến một ngôi nhà riêng lẻ. Tuy không thể tuyên bố như là giáo điều, tôi tin rằng ngôi sao là một sự xuất hiện siêu nhiên đối với những đạo sĩ này. Thiên Chúa giao tiếp với họ bằng ngôn ngữ mà họ hiểu: ngôn ngữ của các vì sao.

Khi chúng ta suy ngẫm về ý nghĩa của các bài đọc thánh thiêng này cho chính mình vào cuối tuần này, trước hết chúng ta bị ấn tượng bởi sự ứng nghiệm của các lời tiên tri về việc các dân tộc sẽ được quy tụ lại với Chúa Kitô. Giờ đây, vào đầu thiên niên kỷ thứ ba, cứ ba cư dân trên thế giới thì có một người tự nhận mình là tín đồ của Chúa Kitô, tổng cộng là 2,2 tỷ người, trong đó khoảng một nửa là người Công giáo. Ngay cả khi tác giả Tân ước cuối cùng viết thư của mình, dân số theo Kitô giáo nhiều nhất là hàng chục nghìn người, chủ yếu nói tiếng Hy Lạp và tập trung ở phía đông của Đế chế La Mã. Sự mở rộng đáng kinh ngạc của “giáo phái Do Thái” này đến những vùng đất chưa từng được biết đến sẽ là điều hết sức vô lý trong thời cổ đại đó.

Trong thời hiện đại, đức tin đã bùng nổ ở những khu vực từng bị đóng cửa với Giáo hội. Châu Phi cận Sahara, nơi số lượng người theo Kitô giáo thì không đáng kể, thậm chí cả trăm năm trước đây, hiện có khoảng 60% là người là Kitô hữu. Mặc dù luôn luôn có một trận chiến tâm linh đang diễn ra, nhưng đúng là có vô số từ mọi quốc gia đã tụ họp dưới Ánh sáng.

Ở một khía cạnh khác, chúng ta thấy nơi các đạo sĩ sự đại diện của các học giả và khoa học gia, những người cống hiến cuộc đời mình để học hỏi, để đạt được sự khôn ngoan. Những ngôi sao mà họ nghiên cứu chỉ ra sự hiện hữu của Chúa. Nhiều người đã viết về một thực tế đáng ngạc nhiên rằng các định luật và công thức vật lý cho phép các ngôi sao chiếu sáng trong không gian và các hành tinh quay quanh chúng, dường như đều được "tinh chỉnh/ finely tuned", đến nỗi cho các số chuẩn hoặc "hằng số vật lý" mà chúng phụ thuộc vào không thể thay đổi một phần của thậm chí -10 lũy thừa 37 (nghĩa là 0.000....37 số zero..1), cho những hành tinh ít nhạy cảm nhất. Ví dụ, nếu lực hấp dẫn mạnh hơn một chút, vũ trụ sẽ sụp đổ trước khi các hành tinh được hình thành; và nếu nó yếu hơn một chút, các hành tinh và ngôi sao thậm chí sẽ không hình thành. Nếu ánh sáng nhanh hơn một chút, thì vũ trụ sẽ quá nóng để có sự sống; chậm hơn một chút, nó sẽ quá lạnh cho sự sống. Nhiều nhà khoa học và triết gia khoa học đã viết về hiện tượng này, hiện tượng này thường được gọi là “sự tinh chỉnh của vũ trụ”. Cha Robert Spitzer, chẳng hạn, đi sâu vào vấn đề này trong cuốn sách của ông từ nhà xuất bản Ignatius Press, New Proofs for the Existence of God /Những bằng chứng mới chứng minh sự hiện hữu của Chúa. Tuyên bố tôi ưa thích nhất về vấn đề này là từ Sir Fred Hoyle, nhà vật lý thiên văn người Anh vĩ đại nhất thế kỷ XX, và bản thân ông là một người theo thuyết vô thần, dù sao cũng đã thừa nhận:

“Một cách giải thích theo lẽ thông thường về các sự kiện cho thấy rằng một trí óc siêu vời đã thọc tay vào vật lý, cũng như hóa học và sinh học, và không có lực mù quáng nào [theo nghĩa ngoài Đấng rất khôn ngoan] đáng được đề cập đến trong thế giới tự nhiên. Đối với tôi, những con số tính toán từ thực tế dường như quá áp đảo đến mức kết luận này gần như không thể nghi ngờ được nữa.”

Vì vậy, các đạo sĩ đã đúng: nếu một người thì chân thật và đi theo bằng chứng nó đưa ra, việc suy niệm các vì sao sẽ dẫn trí tuệ đến tìm thấy Chúa.

 Những đạo sĩ này đã cởi mở với sự thật, ngay cả khi họ sẽ phải hành trình đến một nơi rất xa xôi và rất khác lạ với nền văn hóa của họ. Họ là những người khôn ngoan, thông thái, họ thể hiện một trí tuệ thực sự sáng suốt. Bằng một cách nào đó (chúng ta không biết rõ ràng), họ đã nhìn thấy nơi Hài nhi Giêsu, món quà của Thiên Chúa cho loài người, dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại. Sự khôn ngoan chân chính nhận ra giới hạn của sự khôn ngoan. Có một cái gì đó cao thượng hơn sự khôn ngoan, và đó là tình yêu (1 Cô-rinh-tô 13: 1-13). Tình yêu là sự khôn ngoan tối thượng. Những trí thức này quỳ gối và cúi đầu trước một điều gì đó vĩ đại hơn mình: Tình yêu của Thiên Chúa, một Tình Yêu khiêm nhường và không gây sợ hãi của một đứa trẻ ngồi trong lòng mẹ mình. Thay vì làm giảm mất đi sự khôn ngoan, sự khiêm tốn của họ khi đối mặt với Tình Yêu sẽ nâng cao sự khôn ngoan.

Những người cống hiến cuộc sống của mình để theo đuổi việc học cần phải tránh cái bẫy của sự kiêu hãnh trí tuệ để thể đem lợi ích đến cho đồng loại. Các đạo sĩ là những học giả đã cúi đầu trí tuệ trước thực tế của tình yêu và sự khiêm tốn. Chúng ta nên noi gương họ.

Share:

Danh thánh Giêsu

“Đây là gia phả Đức Giê-su Ki-tô, con cháu vua Đa-vít, con cháu tổ phụ Áp-ra-ham” (Mt 1:1).

Trong câu mở đầu này, Mát-thêu giới thiệu cho chúng ta Danh thánh của Chúa Giêsu, Danh thánh đã được kêu cầu đến trong lời cầu nguyện ngay từ buổi đầu của Kitô giáo.

Theo quan điểm Kinh thánh, việc chúng ta có thể kêu gọi tên của Chúa Giêsu là điều thật đáng kinh ngạc. Trong đạo Do Thái cổ đại, danh thánh Chúa chỉ được gọi đến một lần mỗi năm và chỉ bởi vị Thượng tế. Giờ đây, qua việc Thiên Chúa xuống thế làm người trong Đức Kitô, chúng ta có đặc ân kêu cầu danh Chúa: Danh hiệu Giêsu mà Con Thiên Chúa đã tiếp nhận khi nhập thể bao hàm mọi tước hiệu. Con người không có quyền gọi tên Thiên Chúa, nhưng khi nhập thể, Ngôi Lời Thiên Chúa đã mặc khải Danh Thánh này và chúng ta có thể xướng lên Danh đó: ‘Giêsu’; ‘Thiên Chúa Cứu Độ’” (GLCG 2666)

Danh thánh Giêsu hàm chứa một quyền lực mạnh mẽ. Đây là tên duy nhất dưới gầm trời này mà chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ. (Cv 4:12). Nhân danh Chúa Giêsu, người bệnh có thể được chữa lành (Mc 16: 17-18; GLCG 1507), tội nhân tìm thấy lòng thương xót (GLCG 1846), và linh hồn gặp được sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Như Sách Giáo lý giải thích, “Danh Người là danh hiệu duy nhất hàm chứa sự Hiện diện thần linh. Đức Giêsu đã phục sinh, ai kêu cầu danh Người sẽ được đón nhận Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến và hiến mạng sống cho họ.” (GLCG #2666).

Danh thánh Chúa Giêsu là một lời cầu nguyện đơn giản, khi được kêu khẩn với lòng yêu mến và sự chú ý (GLCC 2668). Ví dụ, các Kitô hữu qua nhiều thế kỷ đã đọc Lời cầu nguyện danh Chúa Giêsu, họ lặp đi lăp lại cách chậm rãi và trìu mến câu “Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội,” hoặc thậm chí chỉ tên “Chúa Giêsu,” đôi khi hàng trăm lần một ngày, giữa những công việc nhỏ nhặt hàng ngày, hoặc đọc theo nhịp thở của họ trong khi cầu nguyện. Bằng cách này, cuộc sống hàng ngày của chúng ta có thể trở thành một lời cầu nguyện liên lỉ với Chúa Kitô luôn ở trong tâm trí, trên môi miệng và trong trái tim của chúng ta.

Việc kêu cầu danh thánh Chúa Giêsu rất hữu ích trong những lúc bị cám dỗ hoặc thử thách tâm linh. Thánh danh của Chúa Giêsu có quyền năng khiến muôn vật phải quy phục Ngài, vì thế, như Thánh Phaolô đã nói, “Khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giêsu Kitô là Chúa.”(Pl 2, 10-11). – Gospel of Matthew, Catholic Commentaries

Share:

Thứ Tư, 31 tháng 12, 2025

Sinh nhật của Chúa là khởi đầu của hoà bình

Trích bài giảng của thánh Lê-ô Cả, giáo hoàng.

Con Thiên Chúa uy nghi cao cả đã chẳng coi khinh tình trạng trẻ thơ. Với thời gian, trẻ thơ đã lớn, đã đạt tới mức trưởng thành. Sau khi Người đạt được chiến thắng hoàn toàn nhờ cuộc Thương Khó và Phục Sinh, thì tất cả mọi hành động của kiếp người hèn hạ Người đã chấp nhận vì yêu thương chúng ta, đã trở thành quá khứ. Tuy nhiên, ngày lễ hôm nay nhắc lại cho chúng ta những biến cố đầu tiên của Đức Giê-su sinh làm con Đức Trinh Nữ Ma-ri-a. Khi mừng kính ngày giáng sinh của Đấng Cứu Thế, chúng ta cũng mừng chính nguồn gốc của mình.

Thật vậy, ngày Đức Ki-tô giáng sinh cũng là ngày dân Ki-tô hữu khởi đầu. Mừng sinh nhật của đầu là mừng sinh nhật của thân thể.

Dĩ nhiên mỗi người được mời gọi theo phiên thứ của mình. Con cái của Hội Thánh xuất hiện vào những thời điểm khác nhau. Nhưng vì toàn thể các tín hữu đều sinh ra từ giếng nước thánh tẩy, đều cùng chịu đóng đinh với Đức Ki-tô trong cuộc Thương Khó, cùng sống lại với Người trong mầu nhiệm Phục Sinh, cùng được đặt với Người bên hữu Chúa Cha trong mầu nhiệm Thăng Thiên, thì tất cả cũng được sinh ra cùng với Người trong mầu nhiệm Giáng Sinh này.

Người tín hữu thuộc bất cứ phần đất nào trên thế giới, đã được tái sinh trong Đức Ki-tô sau khi từ bỏ đường tội lỗi của con người cũ, thì cũng nhờ được tái sinh mà trở nên người mới. Người ấy không còn thuộc dòng giống cha ông theo huyết nhục, nhưng thuộc dòng tộc Đấng Cứu Thế là Đấng đã trở nên con của loài người để chúng ta được làm con cái Thiên Chúa.

Thật vậy, nếu Người không tự hạ mình và xuống với chúng ta, thì không ai có thể nhờ công nghiệp của riêng mình mà đến với Người được.

Chúa ban cho ta một ân huệ vừa lớn lao, vừa huy hoàng như thế, thì chúng ta phải mừng kính sao cho xứng hợp. Quả vậy, như lời thánh Tông Đồ, chúng ta đã nhận được không phải tinh thần thế tục, nhưng là Thánh Thần phát xuất từ Thiên Chúa, để nhận biết những hồng ân Người ban tặng. Chúng ta chỉ có thể tôn thờ Người cách xứng hợp khi ta dâng cho Người những gì Người đã ban cho ta.

Vậy, trong kho tàng Thiên Chúa đã rộng ban, chúng ta có thể tìm thấy điều gì xứng hợp để mừng kính ngày lễ này cho bằng sự bình an đã được các thiên thần công bố trong ngày Chúa giáng sinh ? Đây chính là sự bình an sinh ra những con cái của Thiên Chúa, sự bình an nuôi dưỡng tình yêu, tạo nên sự hợp nhất, cho các thánh được nghỉ yên, dẫn tới chỗ cư ngụ muôn đời. Việc chính của bình an, hoa quả đặc thù của bình an là tách biệt con người ra khỏi thế gian mà cho kết hợp với Thiên Chúa.

Vậy, những người được sinh ra không phải do khí huyết, cũng không phải do ý muốn tự nhiên của con người, hoặc do ý muốn của phái nam, nhưng do chính Thiên Chúa, phải dâng lên Chúa Cha sự đồng tâm nhất trí của những người con xây dựng hoà bình. Tất cả những ai được Thiên Chúa nhận làm con, hãy cùng nhau tìm đến với vị Trưởng Tử của tạo thành mới ; Người đã đến không phải để làm theo ý riêng mình, nhưng là để làm theo ý Đấng đã sai mình. Những người được Chúa Cha cho thừa hưởng ân huệ làm con không phải là những người bất hoà, chia rẽ, nhưng là những người có cùng một tâm tình, có cùng một tình yêu. Được tái tạo theo một hình ảnh duy nhất, họ phải có tâm hồn tương xứng với hình ảnh ấy.

Sinh nhật của Chúa là khởi đầu của hoà bình, như lời thánh Tông Đồ : Chính Người là bình an của chúng ta, Người đã liên kết đôi bên. Dù chúng ta là dân Do-thái hay dân ngoại, nhưng chính nhờ Người, tất cả chúng ta được liên kết trong một thần khí duy nhất mà đến cùng Chúa Cha.

Share:

Thứ Sáu, 26 tháng 12, 2025

Chúng ta sẽ làm gì cho tới khi Chúa đến lần thứ hai?

Michael Knowles: Chúng ta biết câu chuyện bắt đầu như thế nào. Chúng ta biết bước ngoặt của câu chuyện là gì, đó chính là mầu nhiệm Nhập Thể. Chúng ta thậm chí còn biết câu chuyện sẽ kết thúc ra sao. Thế nhưng, chúng ta đang sống trong một khoảng thời gian treo lơ lửng của lịch sử, nơi chúng ta được mời gọi phải làm một điều gì đó, và đang cố gắng phân định xem chính xác mình phải làm gì.

Chúng ta cũng đang hướng về khi Chúa đến lần thứ hai, một biến cố có lẽ sẽ đến sớm hơn nhiều người nghĩ. Chúng ta không biết ngày hay giờ; biến cố ấy có thể đến bất ngờ. Cụ thể và tích cực, chúng ta phải chuẩn bị bản thân thế nào?

Bishop Barron: Chúng ta phải cùng nhau sống như Hội Thánh. Chúa Giêsu nói: Con là Phêrô, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng được. Giáo Hội là dấu chỉ của việc gieo hạt giống sự sống của Đức Kitô vào thế giới. Đức Kitô đến trong mầu nhiệm Nhập Thể, và trong mầu nhiệm nhập thể chúng ta được cứu độ. Tôi nói điều đó với tư cách là người Công giáo, không chỉ thập giá mà thôi; đó là đỉnh điểm. Nhưng nhờ trọng vẹn mầu nhiệm nhập thể, chúng ta được cứu độ.

Vậy điều gì làm cho mầu nhiệm Nhập Thể được tếp diễn xuyên suốt không gian và thời gian? Lần nữa, theo quan điểm Công giáo, đó chính là Hội Thánh. Qua giáo huấn chính thức của Hội Thánh, qua các bí tích, đặc biệt là Thánh Thể, qua quyền bính tông truyền, qua các thánh, sự sống của Đức Kitô được tiếp tục hiện diện trong thế giới.

Hãy trở về sách Công Vụ Tông Đồ. Đức Kitô phục sinh và lên trời, Ngài lên trời không để không còn ở đây nữa, ở trên đó và xa khỏi đây. Tạm biệt Chúa Giêsu. Không hề. Hình ảnh đúng hơn là một vị tướng chiếm lĩnh điểm cao để có cái nhìn bao quát toàn bộ chiến trường. Đức Kitô thăng thiên để sai Thánh Thần của Người xuống trên Hội Thánh, nhằm tái tạo thế giới.

Thật vậy, Nhập Thể chính là việc Thiên Chúa tái tạo công trình tạo dựng của Người.

Kitô giáo không chơi trò chơi mang tính Platon. Kitô hữu không theo thuyết nhị nguyên hay ngộ đạo, cho rằng thế giới sa ngã thì xấu xa, vật chất thì tệ hại, và cần phải trốn chạy càng sớm càng tốt. Đó hoàn toàn không phải là linh đạo Kinh Thánh.

Linh đạo Kinh Thánh khẳng định rằng Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa chưa bao giờ bỏ rơi thế giới của Người. Người muốn cứu độ, chữa lành, phục hồi nó, và sau cùng nâng nó lên tới mức hoàn hảo cao nhất. Mầu nhiệm Nhập Thể chính là phương thế Thiên Chúa dùng để thực hiện công cuộc chữa lành vĩ đại của vũ trụ. Hội Thánh, Nhiệm Thể của Đức Giêsu, tiếp tục công trình ấy trong thế giới hôm nay. Và khi chúng ta chờ đợi sự hoàn tất sau cùng, điều mà chúng ta gọi là Cuộc Quang Lâm lần thứ hai thì mọi sự sẽ được quy tụ lại.

Có một thuật ngữ Hy Lạp rất đẹp, thánh Phaolô dùng và các Giáo Phụ rất yêu thích: anakephalaiōsis. Đó là từ dễ nhớ và từ rất đẹp. Trong tiếng Latinh, từ này được dịch là recapitulatio, “quy tụ dưới một thủ lãnh”. Đó chính là việc mọi sự được quy tụ dưới quyền thủ lãnh của Đức Giêsu Kitô. Đó là anakephalaiōsis, nghĩa là recapitulatio, quy tụ lại. Thánh I-rê-nê rất yêu thích ý tưởng này, nó ở ngay trong thư của Thánh Phaolô và thánh Tôma Aquinô cũng vậy.

Cuộc Quang Lâm chính là khoảnh khắc mọi sự được quy tụ lại trong hình dạng đã được chữa lành và cứu chuộc, dưới quyền thủ lãnh của Đức Kitô. Vậy quay lại câu hỏi ban đầu: trong khi chờ đợi, chúng ta phải làm gì?

Chúng ta là Hội thánh cùng sống với nhau. Chúng ta sống như Thành của Thiên Chúa đang hoạt động trong thế giới này, trong khi chờ đợi Người. Chúng ta không tự làm cho điều đó xảy ra, nhưng dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, chúng ta sống theo ý định và kế hoạch của Thiên Chúa.

Share:

Thứ Sáu, 19 tháng 12, 2025

Chúng ta cần hoán cải sự hiểu biết và cảm xúc của trái tim về cụm từ: hình phạt của Chú

Đoạn Tin Mừng từ Luca (1,5-25) là câu chuyện truyền tin của Da-ca-ri-a. Hầu hết chúng ta khi nghe lời thiên thần nói với ông: "Này đây ông sẽ bị câm, không nói được, cho đến ngày các điều ấy xảy ra, bởi vì ông đã không tin lời tôi, là những lời sẽ được ứng nghiệm đúng thời đúng buổi", đều nghĩ là ông bị Chúa phạt.

Hôm nay nghe được một đoạn chú giải được dịch từ "2025 Gospel Power" rất hay: Ông Dacaria được mô tả là “người công chính trước mặt Thiên Chúa”. Tuy nhiên, ngay cả người công chính cũng có thể sa ngã. Tuổi già và những năm tháng dài cầu xin một đứa con mà không được nhậm lời đã khiến ông Dacaria trở nên cay đắng, và nay là thiếu lòng tin trước mạc khải từ trời.
Sự thinh lặng bị áp đặt, dù bề ngoài có vẻ như một hình phạt, thực ra lại là một thời gian ân sủng... Nếu Thiên Chúa đã mở dạ những người mẹ son sẻ của Israel — như Sara, Rêbêca, Rakhen, Anna và mẹ của Samson — thì tại sao Thiên Chúa lại không làm điều tương tự cho bà Êlisabét? Dấu chỉ ấy, chính là sự thinh lặng, trở thành một trường học của đức tin.

Thư thứ nhất của thánh Gioan cũng nói: "Thiên Chúa là ánh sáng; nơi Người, không có một chút bóng tối nào" (1 Gioan 1:5).

Chúng ta thường dán lên Thiên Chúa những trải nghiệm trong cuộc sống của chúng ta. Trên trái đất này, hình phạt thường đi kèm với sự tức giận, thậm chí tệ hơn, là trút giận cho hả dạ.

Thiên Chúa ‘phạt’ chúng ta không phải để hủy diệt, nhưng để sửa chữa, thanh luyện và chữa lành — bởi vì Ngài YÊU TA. Một người nghiện sẽ cảm thấy việc cai nghiện như một ‘hình phạt’ kinh khủng; cũng vậy, một người phải trải qua phẫu thuật để cắt bỏ khối u ung thư chắc chắn không hề cảm thấy dễ chịu.

Đây là một sự hoán cải trong tâm trí và trái tim mà chúng ta phải chú tâm để ý đến.

Có lẽ hình ảnh người huấn luyện viện giúp chúng ta nghĩ về "hình phạt" của Chúa cách đúng đắn hơn.Là một vận động viên đang trên đường thắng giải Olympia là thiên đàng, chúng ta sẽ rất vinh dự khi người huấn luyện viên không bao giờ chê bỏ ta mà còn đưa ra những chương trình huấn luyện đòi hỏi sự cố gắng luyện tập hơn nữa. Thật là Chúa muốn huấn luyện ta thành tay võ nghệ cao cường (x. Tv 144,1)

Tội lỗi đưa chúng ta vào con đường đau khổ và Chúa phải đi vào nơi tối tăm để đưa chúng ta ra.

Còn Đức Maria vô nhiễm nguyên tội đã phải chịu bao nhiêu đau khổ để thông phần những đau khổ của Đấng mang tên là “Ơn Cứu Độ” (x. Rm 8,17).

Nhờ Chúa Giêsu, chúng ta có thể biến đổi hết mọi đau khổ, ngay cả đau khổ vì tội thành những cơ hội để thông phần vào những đau khổ của Đấng Cứu Chuộc, Đức Giêsu Kitô.

Share:

Thứ Năm, 18 tháng 12, 2025

Chúa Nhật thứ IV Mùa Vọng, năm A

Đức Giê-su sinh làm con bà Ma-ri-a. Bà đã thành hôn với ông Giu-se, con cháu vua Đa-vít. (Mt 1,18-24)

Cứu khỏi tội lỗi” không giống với “cứu khỏi những hậu quả của tội”. Đức Giêsu không chỉ đến để cứu chúng ta khỏi hỏa ngục, mà còn để cứu chúng ta khỏi việc phạm tội. Người đến để ban cho chúng ta khả năng sống đời thánh thiện. Sống trong tội lỗi là một đời sống cùng cực, khốn khổ; thực ra, đó là một thứ hỏa ngục ngay trên mặt đất. Tội lỗi có tính gây nghiện, và chúng ta cần một Quyền Năng Cao Hơn—thực sự là một Ngôi Vị Cao Hơn—để được giải thoát.

Cũng như Giuse trong Cựu Ước, con của Gia-cóp, là một người hay mơ và qua những giấc mơ ấy Thiên Chúa đã nói với ông, thì Thiên Chúa cũng thông truyền với Giuse trong Tân Ước, con của Gia-cóp (Mt 1,16), qua những giấc mơ.

Nhưng thiên thần không gọi ông là “con Gia-cóp” mà là “con Đavít”, nhấn mạnh mối liên hệ của thánh Giuse với những lời hứa và giao ước gắn liền với nhà Đavít, bao gồm cả lời hứa của ngôn sứ Isaia về Đấng “Emmanuel” sẽ được sinh ra bởi một “trinh nữ” thuộc dòng tộc này. Thực vậy, chính Giuse là người thừa kế ngai vàng Đavít. Nếu triều đại Đavít còn nắm quyền trong thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, thì Giuse đã trị vì tại Giêrusalem. Nhưng thực tế, ông lại làm lao động chân tay ở Nadarét, một thôn xóm nhỏ bé nơi vùng đồi hẻo lánh của Ítraen.

Tại sao một hậu duệ hoàng tộc lại sống ở một nơi xa xôi như vậy? Có lẽ dòng họ Đavít đã định cư ở Nadarét để tránh xa những nơi chính trị bất ổn như Giêrusalem. Mang dòng máu hoàng gia là một gánh nặng chính trị, trừ khi bạn thực sự nắm quyền trên ngai vàng. Lúc ấy, Hêrôđê Cả đang nắm quyền, nhưng ông là kẻ tiếm vị, không có dòng máu hoàng gia, là người nửa Do Thái, với cha là người Êđôm (Idumê). Khi các đạo sĩ đến Giêrusalem tìm người thừa kế nhà Đavít, kết cục là Hêrôđê ra lệnh giết các trẻ trai ở Bêlem. Chính để tránh những biến cố như thế mà dòng họ Đavít ẩn mình nơi vùng đồi Nadarét.

Mặc dù thánh Mát-thêu chỉ nêu gia phả của thánh Giuse (Mt 1,2–16), chúng ta có thể tin chắc về mặt luân lý rằng Đức Maria cũng thuộc dòng dõi Đavít. Đó là truyền thống của Hội Thánh qua suốt các thế kỷ; hơn nữa, điều này hoàn toàn hợp lý, vì vào thời ấy các làng mạc thường được hình thành theo dòng họ, nên hầu hết dân làng đều là thành viên của cùng một đại gia đình xuất phát từ một tổ tiên danh giá. Có lẽ hầu như mọi người dân Nadarét đều mang dòng máu Đavít. Xác tín cá nhân của tôi là Luca chương 3 trình bày dòng huyết thống sinh học của Đức Giêsu qua Đức Maria (thực ra là qua người cha của Mẹ Maria, Hêli, dạng rút gọn của Êliakim [tức Giôgia-kim, x. 2 V 23,34]).

Qua Đức Maria sẽ đến Đấng “làm trọn” lời ngôn sứ vốn được hướng về vua Khít-ki-gia. Khít-ki-gia đã làm thất vọng, nhưng Đức Giêsu sẽ là “Emmanuel” theo một nghĩa sâu xa hơn rất nhiều: không chỉ là dấu chỉ Thiên Chúa ở cùng chúng ta, mà chính là Thiên Chúa hiện diện trong xác phàm. Mẹ của Khít-ki-gia là Abia chỉ là một “thiếu nữ” trước khi đến với A-khát, còn Mẹ của Đức Giêsu, Đức Maria (tiếng Híp-ri là Miriam), là trinh nữ trước, trong và sau khi sinh con. Đức Giêsu hoàn toàn ứng nghiệm lời ngôn sứ xưa dành cho nhà Đavít.

Khi lùi lại và suy niệm các bài đọc này, chúng ta thấy một chủ đề chung: sự xâm nhập của Thiên Chúa vào đời sống con người. Thiên Chúa đề nghị can thiệp vào đời vua A-khát, nhưng phản ứng của nhà vua là “xin cảm ơn, nhưng không cần”. Thiên Chúa tiến vào Giêrusalem trong nghi thức phụng vụ, và dân chúng chào đón Người bằng những lời tung hô trong Thánh vịnh 24.

Trong Tin Mừng, Thiên Chúa “xâm nhập” vào đời sống của Đức Maria và thánh Giuse bằng sự hiện diện của Người. Có lẽ ước mơ của họ chỉ là sống một cuộc đời lặng lẽ, bình an, cố gắng nuôi dưỡng gia đình tại Nadarét trong khi chờ đợi lời hứa Thiên Chúa dành cho tổ tiên họ được các ngôn sứ loan báo. Họ đâu biết rằng Thiên Chúa sẽ dùng chính cuộc đời họ để hoàn tất tất cả những lời hứa ấy.

Nhưng sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời họ cũng đồng nghĩa với việc chấm dứt nhịp sống quen thuộc và sự thoải mái của đời thường.

Giuse bối rối khi thấy vị hôn thê của mình mang thai và lo sợ không dám cưới nàng, hoặc vì nghi ngờ có điều sai trái nơi Maria (cách hiểu hiện đại), hoặc vì ngần ngại kết hôn với một người phụ nữ thánh thiện đến mức được dành riêng cho việc thụ thai thần linh (cách hiểu truyền thống cổ điển).

Ước mơ của Đức Maria và thánh Giuse về một cuộc sống bình thường của một đôi vợ chồng trung lưu, sống “giấc mơ Ítraen”, đã tan vỡ. Cuộc đời họ sẽ không còn bình thường và điển hình nữa. Thiên thần hướng dẫn Giuse bước tiếp theo: hoàn tất hôn lễ với Maria. Chúng ta biết rằng những tháng sắp tới sẽ đầy căng thẳng—một chuyến đi dài đến Bêlem khi Maria đã mang thai gần ngày sinh, rồi một cuộc trốn chạy trong đêm từ Bêlem sang Ai Cập để tránh bách hại.

Cuộc đời của Mẹ Maria và thánh Giuse không còn bình thường và êm ả nữa, bởi vì khi Thiên Chúa “xâm nhập” vào đời chúng ta, Người đưa chúng ta vào kế hoạch cứu độ của Người cho toàn thế giới, và chúng ta phải cùng dự phần vào những đau khổ của Đấng mang tên là “Ơn Cứu Độ” (x. Rm 8,17).

Trong Thánh lễ, chúng ta chuẩn bị đón nhận “cuộc xâm nhập thần linh” của Thánh Thể, khi Thiên Chúa một lần nữa đi vào đời sống và thân xác chúng ta—“Mình và Máu, Linh Hồn và Thần Tính”. Chúng ta đã sẵn sàng cho điều đó chưa? Chúng ta có sẵn sàng để cuộc đời mình rẽ sang một hướng khác, thậm chí là một hướng không thoải mái, bởi vì giờ đây Thiên Chúa đang sống trong chúng ta hay không?

Share:

Lễ Thánh Gia -- năm A

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu

Khi các nhà chiêm tinh đã ra về, thì sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông Giu-se rằng: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hê-rô-đê sắp tìm giết Hài Nhi đấy!” Ông Giu-se liền trỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập. Ông ở đó cho đến khi vua Hê-rô-đê băng hà, để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ : Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai-cập.

Sau khi vua Hê-rô-đê băng hà, sứ thần Chúa lại hiện ra với ông Giu-se bên Ai-cập, báo mộng cho ông rằng: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người về đất Ít-ra-en, vì những kẻ tìm giết Hài Nhi đã chết rồi.” Ông liền trỗi dậy đưa Hài Nhi và mẹ Người về đất Ít-ra-en. Nhưng vì nghe biết Ác-khê-lao đã kế vị vua cha là Hê-rô-đê, cai trị miền Giu-đê, nên ông sợ không dám về đó. Rồi sau khi được báo mộng, ông lui về miền Ga-li-lê, và đến ở tại một thành kia gọi là Na-da-rét, để ứng nghiệm lời đã phán qua miệng các ngôn sứ rằng : Người sẽ được gọi là người Na-da-rét. -- Mt 2,13-15.19-23

Tin Mừng này là một trong vài đoạn tập trung vào thánh Giuse như nhân vật chính. Chúng ta hãy cùng nhắc lại vài điều về vị thánh vĩ đại nhưng thường bị lãng quên này. Thánh Giuse thuộc dòng họ vương giả. Thật vậy, chính ngài là người thừa kế hợp pháp ngai vàng của thành Giêrusalem: đó chính là ý nghĩa của gia phả Chúa Giêsu trong Mát-thêu chương 1. Tuy nhiên, dù là người thừa kế chính đáng, thánh Giuse lại phải lánh nạn trước kẻ mạo danh đang ngồi trên ngai: Hêrôđê, một kẻ thuộc tầng lớp quý tộc và chính trị gia, nửa Do Thái nửa Êđôm, kẻ đã dùng tiền bạc, mưu mô và hôn nhân để chiếm lấy ngai vàng Ít-ra-en. Hêrôđê là một trong những hình mẫu phản Kitô xuất hiện sớm trong Kinh Thánh.

Dù thuộc dòng vương tộc của chi tộc Giuđa, thánh Giuse lại mang tên của vị tổ phụ thuộc một chi tộc khác, chi tộc từng cạnh tranh với Giuđa về quyền lãnh đạo mười hai chi tộc Ítraen (x. St 49,10.26). Cũng như Giuse “áo nhiều màu” nổi tiếng (áo Gia-cóp may cho ông vì thương ông cách đặc biệt), thánh cả Giuse đặc biệt nhạy cảm với những gì Chúa muốn nói với ngài và đã tiếp nhận những giấc mơ mạc khải liên quan đến việc đưa Con Chúa sang Ai Cập và gìn giữ dân Chúa khỏi tai họa.

Trong giai đoạn này của lịch sử cứu độ, sự an toàn của Thánh Gia, và vì thế niềm hy vọng cứu độ của toàn thể nhân loại, được đặt trong tay thánh Giuse. Đức Maria là Đấng Vô Nhiễm, Hài Nhi Giêsu là Thiên Chúa, nhưng -- như trong nhiều bộ phim hành động - hay vào thời khắc quyết định, câu chuyện lại được giao phó cho nhân vật không có “siêu năng lực”! Chính vì thế, thánh Giuse trở thành hình mẫu của người tín hữu: Đức Giêsu phó thác chính mình cho chúng ta; Người ngự trong chúng ta nhờ  Chúa Thánh Thần và Thánh Thể.

Ở một mức độ nào đó, nhờ sự hiệp thông các thánh trong Chúa Thánh Thần, Mẹ Maria cũng ở cùng chúng ta (x. Ga 19,27). Nhưng chúng ta trân quý Chúa và Mẹ Người -  những Đấng đã được trao phó cho chúng ta - đến mức nào? Chúng ta có để cho sự sống của các Ngài trổ sinh nơi mình, để có thể thưa rằng: “Không còn phải là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20)?

Kinh Thánh làm nổi bật điều gì nơi thánh Giuse? Những đức tính nào đã giúp ngài chu toàn sứ mạng Thiên Chúa trao phó? Trong đoạn Phúc âm này, chúng ta nhận ra hai phẩm chất: (1) ngài sẵn sàng lắng nghe tiếng Thiên Chúa, và (2) ngài mau mắn vâng phục.

Cách thực tế, để mở lòng lắng nghe tiếng Thiên Chúa trong đời sống mình, thường cần đến những thói quen sau đây: (1) dành thời gian xứng đáng cho cầu nguyện, kể cả thinh lặng trong cầu nguyện để con tim được Thiên Chúa chạm đến; (2) đọc và suy niệm Kinh Thánh, qua đó Thiên Chúa nói với chúng ta; (3) tìm kiếm sự hướng dẫn của một linh mục giải tội hay linh hướng thánh thiện; (4) thực hành việc sám hối và hy sinh (dù là những hy sinh nhỏ), nhờ đó ta tập dứt bỏ những của cải và khoái lạc vật chất vốn thường làm tê liệt các giác quan thiêng liêng của mình.

Tuy nhiên, lắng nghe tiếng Thiên Chúa phải dẫn đến hành động. Một số tác giả thiêng liêng nói rằng Thiên Chúa ngừng ban những thúc đẩy nội tâm khi chúng ta thường xuyên từ chối thực thi chúng.

Thánh Giuse nêu gương cho các người cha Kitô hữu nói riêng và mọi tín hữu nói chung về cách lắng nghe và vâng theo tiếng Thiên Chúa. Thánh Giuse, xin cầu cho chúng con! -- Dr. John Bergsma, The Word of the Lord: Reflections on the Sunday Mass Readings for Year A

Share:

Tiêu đề

Blog Archive

Labels

Blog Archive